Hiển thị các bài đăng có nhãn động vật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn động vật. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2010

Khả năng tiên đoán thần kỳ của động vật

(Khoa học) - Tiên tri bạch tuộc Paul không phải là con vật duy nhất có khả năng dự đoán đặc biệt. Việc sử dụng động vật để dự báo về tương lai đã có từ lâu trong lịch sử.
Từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại, người ta thường nghiên cứu ruột động vật để phỏng đoán tương lai, Telegraph cho biết.
Một số loài vật cũng có khả năng cảm nhận những thay đổi mà con người không thể nhìn thấy. Đến tận thế kỷ 20 người ta vẫn thường đưa các con chim bạch yến xuống hầm mỏ để kiểm tra hàm lượng khí độc có thể gây ra các vụ nổ.
Người ta cũng tin rằng một số loài vật như rắn có thể dự đoán được những thảm họa thiên nhiên như động đất và sóng thần. Các chuyên gia cho rằng các con vật có khả năng cảm nhận được sự rung động của mặt đất hay nhận ra những biến chuyển trong khí quyển.
Và trong nhiều thế kỷ nay khi những con bò nằm xuống là người ta nghĩ ngay rằng sắp có mưa.
Người Mỹ còn tin rằng chuột chũi cũng có thể dự báo thời tiết. Thời điểm một con chuột chũi chui ra khỏi hang ổ có thể quyết định bao lâu thì mùa đông chấm dứt.
Một nghiên cứu năm 2004 thì tìm thấy một số con chó có thể dự đoán khi nào một đứa trẻ bị lên cơn động kinh. Trong số 60 con được nghiên cứu, 15% phát hiện ra những dấu hiệu co giật tiềm ẩn.

Con mèo Oscar, được cho là có khả năng tiên đoán cái chết. (Ảnh: AP).

Tuy nhiên, còn nhiều con vật có khả năng đoán trước được những điều phi thường.
Con mèo Oscar đã gây sốt trên báo chí vào đầu năm nay khi đoán trước được cái chết của những người sống tại Trung tâm chăm sóc và phục dưỡng Steere House ở Rhode Island, Mỹ. Con mèo 5 tuổi này cứ đến nằm cạnh những bệnh nhân vài giờ trước khi họ qua đời và đã dự đoán đúng 50 cái chết.
Một con chó tại nhà dưỡng lão ở Ohio, Mỹ, cũng có những biểu hiện tương tự đối với các bệnh nhân sắp chết.
Chú chó Jim tại Louisiana, Mỹ, thì được đặt tên là "Siêu khuyển" khi làm đúng theo các chỉ dẫn thậm chí bằng tiếng nước ngoài, ký hiệu viết tắt và cả mã Morse. Nó còn đoán đúng kết quả của các trận thi đấu bóng chày thế giới và giới tính của những em bé chưa sinh.
Những con vật khác kém thành công hơn. Con khỉ Armani ở Mỹ đoán rằng Hillary Clinton sẽ đắc cử tổng thống, hay cá heo Sacy tại Argentina chọn quả bóng có màu cờ Argentina thay vì cờ Đức để đoán kết quả trận tứ kết World Cup năm nay

Giới khoa học tranh cãi về bạch tuộc tiên tri

(VnExpress) - Một số chuyên gia sinh vật biển cho rằng con bạch tuộc Paul có thể đã được huấn luyện để quen với cờ Đức; nhưng những người khác khẳng định nó mù màu.
Thầy Paul đã phán Tây Ban Nha vô địch World Cup 2010. Ảnh: AFP.
Một số nhà sinh vật biển và chuyên gia cho rằng nhiều khả năng Paul không có tài tiên tri nào hết, chỉ là chú ấy đã được học để nhận diện lá cờ Đức.
Con bạch tuộc Paul 2 tuổi sinh ra ở Anh và hiện sống trong một viện hải dương học miền tây nước Đức. Paul trở thành ngôi sao toàn cầu sau khi đoán đúng toàn bộ 6 trận có đội tuyển Đức tham gia.
"Nó có một khả năng mà bất cứ tay cá cược nào cũng mơ ước", Tony LaCasse, phát ngôn viên của Viện hải dương New England, Mỹ, nói. "Paul liên tục dự đoán đúng đáng kinh ngạc, nhưng tôi nghi ngờ khả năng ngoại cảm của nó".


Trong mỗi lần dự đoán, hai hộp nhựa chứa thức ăn của bạch tuộc - con trai - và dán quốc kỳ hai nước được thả vào bể kính của bạch tuộc. Paul chọn thức ăn ở hộp đựng cờ nước nào trước thì nước đó thắng.
Mike Henley, nhân viên giữ thú ở công viên quốc gia Smithsonian, Mỹ, cho biết bạch tuộc nằm trong số những sinh vật biển thông minh nhất thế giới. Chúng là những sinh vật ham học hỏi và là những tay săn mồi bản năng. Bạch tuộc nhanh chóng tìm cách chộp thức ăn trong tự nhiên để nuôi sống bản thân.
Tuy nhiên, theo Henley thì khi bị nuôi nhốt như Paul bây giờ, những con bạch tuộc thường phải được huấn luyện để chấp nhận thức ăn chuẩn bị sẵn.
Các nhà sinh vật biển ở viện hải dương New England thường dùng các loại hộp với chốt, nắp và cách sắp xếp khác nhau với những con bạch tuộc để xem chúng có thể lấy được thức ăn hay không. Họ cho rằng khả năng chộp các đồ vật nhanh chóng giải thích vì sao Paul tỏ ra khá kiên định khi chọn đội thắng.
Nhà tiên tri 8 chân chọn Đức thắng hầu hết các trận ở vòng bảng, trừ trận với Serbia. Trận bán kết, nó chọn cờ Tây Ban Nha. Mới đây, Paul lại dự đoán tiếp đội bóng xứ bò tót thắng trận chung kết.
"Nhìn vào chuỗi dự đoán của Paul thì có vẻ như đây là một việc đã được học từ trước", tiến sĩ Jean Boal, giáo sư sinh vật biển tại đại học Millersville bang Pennsylvania, Mỹ, nói.
Boal đã làm việc với các loài thân mềm trong hơn 20 năm. Bà tin rằng những dự đoán đầu tiên của Paul có thể chỉ do may mắn và việc chú liên tục chọn cờ Đức từ giải Euro 2008 là vì loài sinh vật này được học để làm vậy.
"Đó là một dạng tiếp thu nhận thức đơn giản", Boal nói.
Những con bạch tuộc có thể nhận diện các hình dạng và hoa văn và chúng bị hút về phía đó. "Bạch tuộc rất chăm chú học hỏi. Chúng ta có thể huấn luyện chúng, đôi khi theo một cách không chủ ý", Boal cho biết.
Vậy giải thích thế nào về những lần bạch tuộc không chọn cờ Đức? Boal cho rằng trong quá trình học hỏi thì vẫn có đôi lần chúng vẫn chọn những cái không quen thuộc.
Liệu có phải Paul bị thu hút với màu đỏ và vàng trong quốc kỳ của Đức và Tây Ban Nha? Các chuyên gia khẳng định điều này không đúng. Bạch tuộc có tầm nhìn rất tốt nhưng chúng lại bị mù màu.
"Chúng không có khái niệm về màu sắc, mặc dù có thể phân biệt các sắc thái khác nhau của màu xám", Richard Learner, người quản lý các loài cá ở viện hải dương học quốc gia ở Baltimore, bang Maryland, Mỹ, nói.
"Tóm lại là bạn có thể tính tới yếu tố khoảng cách và việc được huấn luyện để giải thích bí mật của khả năng tiên đoán thiên tài của Paul".
Dù vậy, Henley, một người giữ thú ở vườn thú Smithsonian, cho rằng các fan bóng đá sẽ phải đợi đến hôm 11/7 để Paul chứng minh cho cả thế giới tài tiên tri của nó.
"Việc chứng kiến liệu sắp tới Paul có đoán trúng không sẽ rất thú vị", Henley nói. "Cho đến giờ chú ấy đều may mắn. Chúng ta nên mang nó đến Las Vegas".

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Khám phá hành trình 'tiêu hóa' của trăn

(Khoa học) - Các nhà khoa học thuộc ĐH Aarhus (Đan Mạch) vừa công bố những hình ảnh đáng kinh ngạc về quá trình tiêu hóa con mồi của một con trăn bằng công nghệ chụp ảnh kỹ thuật cao.

Bằng kỹ thuật hình ảnh tiên tiến là chụp CT và Chụp ảnh Cộng hưởng từ, các diễn biến đáng ngạc nhiên bên trong con trăn 5 kg được hé lộ. Kết quả thu được là những hình đặc biệt, thể hiện những cơ quan khác nhau của con trăn.

Theo các nhà nghiên cứu, con trăn phải mất tới 132 giờ để tiêu hóa hoàn toàn một con chuột. Theo quan sát, từng phần cơ thể con chuột biến mất. Cùng lúc đó, ruột con trăn mở rộng, túi mật co lại và nhịp tim tăng lên 25%.

Ông Henrik Lauridsen, tác giả nghiên cứu giải thích: “Sự gia tăng về kích thước trái tim con trăn có thể liên quan đến số năng lượng nó cần để tiêu hóa con mồi. Loài vật này là kẻ ăn thịt kiên nhẫn, chúng nằm và đợi. Chúng có thể nhịn đói hàng tháng trời và sau đó thưởng thức những bữa ăn khổng lồ. Theo tính toán, chúng có thể tiêu thụ lượng thức ăn tương đương với 50% trọng lượng cơ thể. Để có thể đủ năng lượng cho bữa ăn, chúng phải tái khởi động hệ thống tiêu hóa rất nhanh”.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn giải mã cơ cấu hoạt động phức tạp bên trong bộ não của con trăn. Nhờ đó, họ làm rõ nhiều hiểu lầm về giải phẫu học của loài này.

Hansen, đồng tác giả phát biểu: “Kỹ thuật hình ảnh thuận lợi trong việc nghiên cứu, chúng ta không phải giết loài vật để quan sát giải phẫu. Thêm nữa, chúng ta có thể thường xuyên xem xét lại kết quả giải phẫu trực tiếp”. 
Dự án trên còn tiến hành chụp hình nhiều loài vật khác như ếch, rùa, cá sấu và kì đà…

Dưới đây là những hình ảnh đặc biệt cận cảnh quá trình tiêu hóa của loài trăn:
Hình ảnh chụp CT cho thấy con chuột đang bị tiêu hóa trong ruột trăn.


Hình ảnh mặt chụp cắt chiều ngang của con trăn. Từng phần của chuột đang biến mất hoàn toàn. Thời gian tiêu hóa là 132 giờ.
Hình ảnh chụp giải phẫu cấu tạo phức tạp bên trong não con trăn.
Hình ảnh giải phẫu của một con kỳ đà.
Hình ảnh giải phẫu của một con cá sấu.

Khủng long ấp trứng trên mạch nước nóng

(Khoa học) - Các nhà khoa học vừa phát hiện những dấu tích cho thấy, trứng của một số loài khủng long được mẹ chúng đặt ấp trên những mạch nước nóng. 
Ngâm mình trong nước nóng là sở thích của nhiều người vì nó mang đến cảm giác dễ chịu, sảng khoái. Trong nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu phát hiện một vài loài khủng long lựa chọn những mạch nước nóng gửi gắm những đứa con còn trong trứng của chúng, để tận dụng nguồn nhiệt ở đây.

Mạch nước nóng Old Faithful ở phía Tây Bắc Argentina là một trong những địa điểm đó. Vào kỷ Cretaceous cách đây hơn 100 triệu năm, thung lũng Sanagaste ở Argentina là một khu vực địa chất có nhiều hoạt động thủy nhiệt, giống như ở ông viên quốc gia Yellowstone (Mỹ) hay Iceland, có nhiều mạch nước nóng giàu khoáng chất, với nhiệt độ gần đạt ngưỡng sôi chạy chằng chịt bên dưới bề mặt đất.

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy khoảng 80 tổ chứa trứng khủng long hóa thạch ở khu vực này, phần lớn trong số chúng chứa từ một tá trứng trở lên. Kỳ lạ hơn, những tổ này đều nằm trong cách khoảng 3m so với các mạch phun nước nóng. Nó cho thấy, thay vì tránh xa các hoạt động thủy nhiệt nguy hiểm, lũ khủng long lại đặt những quả trứng một cách có chủ ý gần các mạch nước nóng, như một cách để ấp trứng trong thời gian 1 -2 tháng đầu tiên.
Hình ảnh về khu vực khai quật các tổ trứng khủng long.

Các nhà khoa học vẫn chưa xác định những loài khủng long nào đã để lại những quả trứng ở đây. Họ không tìm thấy bất kỳ mẩu xương liên quan trực tiếp tới những quả trứng. Nhưng những quả trứng tìm thấy có kích thước rất lớn. Cá biệt, có quả có bán kinh tới hơn 20 cm, lớn hơn nhiều trứng đá điểu.

Ngoài ra, những mẩu xương ở khu vực khai quật được xác định thuộc họ khủng longTitanosaurus. Đây là loài nặng tới trăm tấn và là một trong những loài vật khổng lồ nhất từng tồn tại trên hành tinh.

Grellet-Tinner và Fiorelli, thành viên của nhóm nghiên cứu cho rằng, khu vực đặt tổ được lũ khủng long lựa chọn vì lượng nhiệt năng ở đây đảm bảo để giữ cho những quả trứng khổng lồ ấm áp.
Những vỏ trứng khủng long dày tới gần 8 mm và bán kính 20 cm.
Các nhà khoa học phân tích và thấy rằng, lớp vỏ trứng của chúng cực dày, dao động 1,29 - 7,94 mm. Trong khi đó, vỏ trứng gà chỉ dày khoảng 0,3 mm. Theo Fiorelli, những quả trứng khỏe mạnh sẽ ngày càng dày lên như một sự thích nghi tiến hóa nhằm bảo vệ trứng khỏi sự phá hủy do axit thủy nhiệt tại khu vực này.

Không phải hiếm có những loài khủng long lựa chọn các điều kiện khắc nghiệt để đẻ trứng. Tuy nhiên, khám phá này lần đầu tiên đưa ra bằng chứng về sự phụ thuộc của khủng long vào nhiệt năng của Trái Đất giai đoạn nguyên thủy để tồn tại và phát triển.

'Quái vật biển' không hung hãn

(Khoa học) - Dài hơn một chiếc xe buýt với các xúc tu phủ đầy gai sắc như dao cạo, mực khổng lồ từng được coi là quái vật biển, nhưng thực ra chúng không phải là những kẻ săn mồi dữ tợn như trong các truyền thuyết.
Một con mực Mesonychoteuthis hamiltoni nặng 495 kg, dài gần 8 m bị bắt tại New Zealand vào năm 2007. Ảnh: thesun.co.uk.

Livescience nhận định rằng, phát hiện này không chỉ đi ngược lại hiểu biết của các nhà khoa học về loài mực khổng lồ mà còn là tiền đề để giới khoa học đánh giá lại vai trò của chúng đối với toàn bộ hệ sinh thái ở độ sâu 914-1.830 m dưới biển Nam Cực.

Cách nhìn mới về loài mực khổng lồ bắt nguồn từ việc phân tích dữ liệu của hai nhà hải dương học Rui Rosa thuộc trường Đại học Lisbon (Bồ Đào Nha) và Brad Seibel từ trường Đại học Rhode Island của Mỹ. Họ đã quan sát mối quan hệ giữa sự chuyển hóa (tức là cách các tế bào trong cơ thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng) với kích thước cơ thể ở những loài mực nhỏ hơn trong cùng một họ với loài này, rồi sử dụng các kết quả thu được để dự đoán về quá trình chuyển hóa ở loài mực khổng lồ Mesonychoteuthis hamiltoni.

Trái với dự đoán ban đầu, họ phát hiện ra rằng loài mực khổng lồ có quá trình chuyển hóa chậm và do đó cũng di chuyển chậm hơn. Chúng thường chờ đợi con mồi hơn là chủ động tìm kiếm.

“Mọi người vẫn cho rằng chúng là loài săn mồi hung hãn, nhưng kết quả ghi nhận được lại cho thấy điều ngược lại. Loài mực nặng khoảng nửa tấn với các xúc tu phủ đầy gai lại không khác gì một giọt nước lớn", Rosa nói với Livescience.

Những truyền thuyết nói mực khổng lồ hay tấn công tàu thuyền và giết chết các thủy thủ, song nghiên cứu mới lại lại tạo ra hình ảnh một sinh vật gần như không hoạt động nhiều. Thay vì đuổi theo con mồi, mực khổng lồ lại chờ những con cá bơi ngang qua để bắt.
Ảnh minh họa mực khổng lồ giao chiến với cá voi. Ảnh: hmns.org.
Rosa cho rằng nếu loài mực khổng lồ tiêu tốn ít năng lượng hơn thì rất có thể chúng không phải là nguồn thức ăn ưa thích của cá voi.

“Vì loài mực này máu lạnh hơn chúng ta tưởng nên chúng không thực sự chứa nhiều dinh dưỡng. Cá voi sẽ không thể lấy được nhiều năng lượng từ mực ống khổng lồ, bởi nếu làm thế chúng sẽ phải tiêu thụ rất nhiều mực để duy trì sự sống”, bà Rosa cho biết.

Đồng thời, Rosa cũng nhấn mạnh rằng, hiểu biết về loài mực khổng lồ vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy các khám phá mới đều có thể bác bỏ những luận điểm đang tồn tại. Trên thực tế, loài mực khổng lồ sống ở những vùng nước quá sâu và lạnh nên các nhà khoa học gặp vô số khó khăn trong việc thu thập dữ liệu về chúng.

“Chúng ta chưa thực sự tiến hành nghiên cứu trực tiếp bởi ta không thể xuống lòng đại dương và bắt một con về được. Loài người hiểu rõ mặt trăng trên trời hơn là biển cả sâu thẳm ngay trên trái đất. Sự thật hiển nhiên này thể hiện rõ nhất ở Nam Cực", Rosa bình luận.

Giải mã bí ẩn về khứu giác 'siêu' nhạy của cá mập

(Khoa học) - Cá mập có thể ngửi thấy mùi của một giọt máu rơi xuống đại dương từ cách đó 500m hay phân biệt một giọt máu trong một triệu giọt nước biển, điều huyền bí này đã được các nhà khoa học giải đáp.

Các nhà nghiên cứu đến từ ĐH South Florida, Mỹ, đã tìm ra rằng mũi của cá mập sử dụng cơ quan cảm thụ khứu giác để phát hiện ra con mồi chỉ trong vòng nửa giây, bằng với thời gian mùi hương lan đến một bên lỗ mũi và chúng có thể so sánh với bên lỗ mũi còn lại. Ngay khi bắt được tín hiệu, kẻ săn mồi “thượng hạng” này nhanh chóng tiến về phía có mùi hương tỏa ra đầu tiên.

Kết luận trên được đăng trên tạp chí Sinh học ngày nay, giúp giải mã một trong những bí ẩn từ lâu về cá mập. Các nhà khoa học thực hiện nhiều thí nghiệm trên 8 con cá mập nhỏ thuộc họ Squalidae và một chú cá mập nâu xám. Tiến sĩ Jayne Gardiner, trưởng nhóm nghiên cứu, đã gắn hai ống vào phần đầu của những chú cá mập này và thả chúng vào bể nước biển 50 lít, sau đó thả mồi.
Cá mập có thể ngửi thấy mùi của một giọt máu cách nó 500m.

Sau khi quan sát, tiến sĩ Jayne nhận thấy cá mập dựa vào sự kết hợp của các tín hiệu định hướng, mùi thơm và dòng chảy nước để xác định hướng và tìm con mồi. Nếu sự ngắt quãng giữa mùi hương ở một bên lỗ mũi với bên kia vào khoảng 1/10 hoặc 1/2 của một giây thì cá mập sẽ hướng phần đầu về nơi mà chúng ngửi thấy mùi hương lần đầu tiên.

“Đây là một ý tưởng rất thú vị khi loài vật sử dụng sự tập trung để xác định mùi hương. Hầu hết sinh vật đều có hai cơ quan cảm biến với mùi hương, có thể là lỗ mũi hay râu, và chúng sử dụng hai cơ quan này để so sánh với nhau rồi tiến tới bên có dấu hiệu mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, khi các mùi bị phân tán bởi không khí hoặc nước thì việc phân biệt sẽ trở nên khá hỗn loạn”, tiến sĩ Gardiner nhận xét.

Không chỉ làm sáng tỏ những kiến thức về cá mập, nghiên cứu này còn dẫn đến việc sử dụng robot dưới nước được trang bị tốt hơn để tìm nguồn gốc của các vết rò rỉ hóa học như dầu tràn ở khu vực vùng vịnh. “Phát hiện này có thể được áp dụng cho các thiết bị dưới nước. Các robot trước đó được lập trình để theo dấu mùi hương bằng cách so sánh mức độ tập chung của chúng, tuy nhiên robot không thể thực hiện tốt chức năng này như loài vật và không thể nhanh bằng cá mập”, tiến sĩ Gardiner khẳng định. 

Cá mập thường tấn công người khi trăng non

(Khoa học) - Một nghiên cứu mới đây cho thấy số vụ tấn công của cá mập tăng mạnh trong thời gian trăng non, trong ngày chủ nhật và ở vùng nước nông.
Một con cá mập trắng. Ảnh: scrapetv.com.

AFP cho biết, các nhà khoa học của Đại học Florida tại Mỹ phân tích số liệu thống kê về số vụ cá mập tấn công người trong hơn 50 năm qua tại hạt Volusia, bang Florida. Hạt Volusia là một trong những nơi có số vụ cá mập tấn công người cao nhất thế giới.

Trong khoảng thời gian từ năm 1996 tới 2008, cứ 5 vụ cá mập tấn công người trên thế giới thì một vụ xảy ra ở miền trung bang Florida.

Các chuyên gia muốn biết tại sao, ở đâu và khi nào những vụ cá mập tấn công người thường xảy ra. Họ xem xét những điều kiện dễ kích động hành vi tấn công của cá mập tại nhiều bãi biển cát trắng – nơi những con sóng mạnh thu hút sự chú ý của cả những người lướt ván và cá mập. Những động vật ăn thịt dưới biển thường tới những vùng nước có sóng mạnh để săn mồi.

“Con người, cá mập và các nhân tố môi trường kết hợp với nhau để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hành vi tấn công người của cá mập”, George Burgess, một chuyên gia của Đại học Florida, phát biểu.

Burgess nhấn mạnh rằng những vụ tấn công xảy ra nhiều nhất mỗi trong chu kỳ trăng hàng tháng.

“Có lẽ các chu kỳ trăng tác động tới sự di chuyển và hoạt động sinh sản của cá, nguồn thức ăn của cá mập”, Burgess nhận xét.

Tháng 8 là khoảng thời gian số vụ cá mập tấn công người xảy ra nhiều nhất vì khi đó một số lượng lớn người thường xuyên ra biển ở bán cầu bắc, đặc biệt vào chủ nhật.

“Cá mập không phải là những con vật thích săn mồi vào cuối tuần. Thay vào đó chính thói quen giải trí của chúng ta khiến chúng gặp nhiều người nhất vào chủ nhật và ít người nhất vào thứ tư hàng tuần”, Burgess nói.

Những cử động như đập tay xuống mặt nước và đá chân của con người thu hút sự chú ý của cá mập. Chúng luôn nhào tới những bộ phận cơ thể chuyển động của người lướt ván vì nghĩ đó là con mồi. Nhưng các chuyên gia cũng khẳng định, trái với suy nghĩ cuản nhiều người, phần lớn những vụ tấn công của cá mập trên bờ biển Florida không gây chết người. 90% số vụ tấn công chỉ dẫn đến những vết thương nhẹ.

Khám phá bí ẩn của những loài cá mập 'tàng hình'

(Khoa học) - Với khả năng phát sáng và hòa lẫn với màu nước, một số loài cá mập trở nên vô hình hoàn toàn trước con mồi và kẻ thù.

Người Anh có câu tục ngữ: “Trái Đất hình cầu chứ không phải hình khối nên bạn không có góc nào để trốn”. Ở vùng nước mở cũng như vậy. Mọi sinh vật thường xuyên đối mặt với những nguy hiểm trong quá trình sinh tồn.

Thế nhưng, vài loài cá mập đã giải quyết được vấn đề trên bằng cách trở nên "vô hình" đối với con mồi và kẻ thù, theo nghiên cứu mới vừa đăng trên tạp chí Experimental Marine Biology and Ecology.

Theo tiến sĩ Julien Cleas, nghiên cứu đã thống kê hơn 50 loài cá mập khác nhau, bằng 10% tổng số loài cá mập có khả năng phát sáng và tạo ra trò lừa bịp hình ảnh: do phát sáng, chúng gần như vô hình, tạo ra khả năng ngụy trang hòa nhập với màu nước. 

Các nhà khoa học đã tập trung vào một loài cá mập phát sáng đặc biệt, đó là cá mập đốm bụng nhung, với biệt danh là bóng ma đi săn của vùng vịnh. Ánh sáng phát ra của loài cá mập xuất phát từ photophore nằm ở bên trong cơ thể chúng.
Hình ảnh chụp cho thấy khả năng phát sáng của loài cá mập đốm.
Nghiên cứu được tiến hành: những con cá mập đốm ở vùng vịnh Bergen (Nauy) được đưa tới trạm Hải dương Espeland. Khu vực này có điều kiện giống như môi trường sống của chúng: những bể cá lạnh và tối.

Ban đầu, các nhà khoa học đo cường độ phát sáng của mỗi con cá mập. Vài ngày sau, việc này được lặp lại sau khi họ đặt những thiết bị chiếu sáng phía trên bể cá để kiểm tra phản ứng của chúng với ánh sáng.

Ngay khi bị đưa vào bể cá, hầu hết những con cá mập đều tự động phát ra ánh sáng, kéo dài trong một vài giờ. Quang phổ ánh sáng đo được tương tự như ánh sáng chúng phát ra ở vùng nước sâu quê nhà.

Chúng có khả năng tự điều chỉnh mức độ phát sáng phụ thuộc vào sự thay đổi ánh sáng bên ngoài. Khả năng có được nhờ việc sử dụng mắt và tuyến nhỏ trên não nhằm giám sát thông tin về ánh sáng chiếu xuống từ phía trên.

Thêm nữa, miệng của hầu hết loài cá mập nằm ở phần dưới, theo nguyên tắc ngược sáng, nên kẻ thù hay con mồi khó nhận ra sự khác biệt. Điều này cho phép cá mập bắt được con mồi như các loài nhuyễn thể hay cá mà không hề bị phát hiện.

Cleas nhận xét: “Do nhiều loài kẻ thù của chúng có kiểu mắt hướng lên trên, loài cá mập sử dụng phương pháp ngụy trang tại vùng nước mặt trung tầm (300 - 1.000 m dưới mặt nước)."

Ngoài ra, khả năng phát sáng còn được những loài cá mập này dùng để thu hút những con khác giới. Tiến sĩ Claes nói: “Giao tiếp cũng là một phần chức năng của khả năng phát sáng. Một vài phần cơ thể của con vật trở nên sáng hơn ở cự ly gần, đặc biệt là phần xương chậu, nơi chứa các cơ quan sinh dục”.

Nhờ khả năng độc đáo, những loài cá mập phát sáng có khả năng sinh tồn cao hơn những loài khác, vì tránh được sự truy sát của kẻ thù cũng như tiếp cận con mồi dễ dàng.

Cuộc xâm lăng của cua độc vào Bắc Hải

(Khoa học) - Một nghiên cứu mới đây cho biết, sự biến đổi khí hậu đã khiến một quần thể cua độc Henslow rời quê nhà và xâm chiếm vùng biển Bắc thuộc châu Âu, gây ra sự biến đổi lớn về hệ sinh thái biển.

Những con cua kỳ lạ này bơi từ vùng biển ấm thuộc Bồ Đào Nha tới vùng biển thuộc phía đông nước Anh. Các chuyên gia đã phát hiện ra điều này khi nghiên cứu sự gia tăng của ấu trùng của loài giáp xác thuộc biển Bắc. Đó là những ấu trùng có kích thước rất nhỏ của tôm và cua. Nhiệt độ của biển Bắc tăng lên một độ C trong vòng ba thập kỷ vừa qua. Điều đó đã làm cho những con cua bơi đến đây ngày càng nhiều.

Cua là một loài động vật săn mồi rất nhanh nhẹn. Không giống như các loài động vật cùng họ khác chỉ sinh sống quanh những bờ biển nơi sinh ra khi trưởng thành, loài cua có những cái càng to và dẹt ở phía trước rất hữu ích, được sử dụng để bơi trên mặt biển thành bầy đàn với một số lượng rất lớn.

Nghiên cứu về hành vi kỳ lạ của loài cua bơi Henslow khi xuất hiện tại biển Bắc được đăng tải trên tờ Biology Letters của Tổ chức Royal Society. Trưởng nhóm nghiên cứu là tiến sĩ Richard Kirby thuộc ĐH Plymouth (Anh) cùng hợp tác với tiến sĩ Alistair Lindley thuộc Hiệp hội Khoa học Đại đương và những người cộng tại trạm hàng hải Wimereux (Pháp). 

Cua và tôm là những loài động vật ăn thịt quan trọng, từ dạng ấu trùng cho đến những con trưởng thành. Chúng ảnh hưởng đến sự đa dạng của các loài động vật khác như động vật có vỏ và loại cá dẹt. Loài cua bơi Henslow sẽ trở thành một kẻ ăn thịt mới cực kỳ quan trọng trong quần thể động vật nhỏ ở biển Bắc.
Hình ảnh loài cua Henslow.
Theo các chuyên gia, sự gia tăng số lượng cá thể loài cua này có thể sẽ ảnh hưởng hưởng lớn đến mạng lưới thức ăn ở biển Bắc. Họ cho rằng sự xuất hiện của những loài cua và tôm mới giải thích được sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới lượng thức ăn của biển, từ đó sẽ dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong hệ sinh thái biển Bắc.

Tiến sĩ Kirby cho biết: “Hiện nay, biển Bắc đã nóng hơn một độ C so với 30 năm trước. Điều này có nghĩa là số lượng ấu trùng cua và tôm trong những sinh vật phù du và những con trưởng thành trên biển đã tăng lên. Loài cua bơi Henslow rất khác thường, với đặc tính sống ở ngoài khơi khi trưởng thành. Chính điều này giúp nó có khả năng chinh phục vùng nước ấm biển Bắc khi rời quê nhà Đại Tây Dương”. 
Tại phía nam biển Bắc, tỷ lệ tôm và cua so với những sinh vật hai mảnh như sò, ốc… trong những sinh vật phù du đã tăng nên gấp đôi kể từ thập niên 1980. Quan trọng hơn, chúng ta thấy sự thay đổi tương tự đối với những con trưởng thành ở đáy biển.

Các nhà khoa học tin rằng sự thay đổi trong hệ thống các loài động vật giáp xác ở biển Bắc có thể đóng một vai trò quan tọng trong việc tuyên truyền về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cụ thể là đến hệ sinh thái của biển Bắc. Tác động làm xuất hiện những loài sứa trong hệ thống những sinh vật phù du, những loài động vật giáp xác, những con nhím biển , vượt qua cả những ngư trường đánh cá thương mại.

Những lời dự đoán về sự biến đổi khí hậu toàn cầu cho thấy những vùng biển xung quanh chúng ta sẽ còn tiếp tục ấm lên. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ còn nhìn thấy nhiều hơn sự xuất hiện của những loài động vật nước ấm mà sẽ có thể làm thay đổi hệ sinh thái biển Bắc nhiều hơn nữa. 

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Những chuyến di cư vĩ đại

(Khoa học) - Rùa lưng da vượt quãng đường hơn 20.000 km để kiếm ăn, còn nhạn biển Bắc Cực thường xuyên vượt quãng đường hơn 80.000 km để thay đổi chỗ ở.

Nhiều loài động vật di chuyển hàng nghìn km mỗi năm để tìm kiếm thức ăn và kết đôi. Dưới đây là một số loài có những cuộc hành trình dài nhất theo bình chọn của Newscientist.

Nhạn biển Bắc cực
Nhạn biển Bắc Cực. Ảnh: Newscientist.
Chim là loài vật di trú nổi tiếng nhất và trong số đó quán quân thế giới chính là nhạn biển Bắc cực Sterna paradisaea. Hàng năm, chúng bay suốt chặng đường từ nơi cư trú mùa hè là Greenland và Iceland đến biển Weddell ngoài khơi Nam Cực. Vì nhạn biển Bắc Cực bay theo đường vòng nên nhiều khi chúng phải vượt qua quãng đường dài tới 81.600 km một năm. 

Nhạn biển Bắc cực có một lợi thế lớn: chúng là loài chim biển nên có thể kiếm ăn trong quá trình di chuyển. Những loài chim trong đất liền không có may mắn đó.

Choắt mỏ thẳng đuôi vằn
Choắt mỏ thẳng đuôi vằn. Ảnh: Rex Features.
Trong số các phân loài của choắt mỏ thẳng đuôi vằn thì loài bay bền bỉ nhất là Limosa lapponica baueri di cư từ Alaska đến Australia và New Zealand.

Là một loài chim trên đất liền nên chúng không thể kiếm ăn trên biển. Vì vậy cuộc hành trình dài 11.000 km không ngừng nghỉ chỉ được kéo dài từ 6 đến 8 ngày. Để hoàn thành chuyến đi, chúng phải làm tiêu bớt một phần ruột, gan và thận để giảm bớt khối lượng rồi sau sẽ tái tạo lại. Đây là chuyến bay liên tục, không dừng lại để kiếm ăn dài nhất trong thế giới động vật.

Một nghiên cứu mới đây cũng khẳng định rằng kỷ lục của loài choắt mỏ thẳng đuôi vằn sẽ khó có thể bị phá vỡ.

Cá voi lưng gù
Cá voi lưng gù. Ảnh: blogspot.com.
Trong số các loài có vú, nắm giữ kỷ lục về chuyến di trú dài nhất là cá voi lưng gù Megaptera novaeangliae. Chúng dành cả mùa hè để kiếm ăn trong những vùng biển gần cực lạnh giá rồi bơi đến những vùng nước ấm nhiệt đới để nuôi con trong suốt mùa đông.

Đến mùa đông, loài cá voi lưng gù di cư lên phía bắc đến Costa Rica qua quãng đường dài 8.300 km.

Cá voi lưng gù đực hát trong khi bơi - có thể là để thu hút con cái. Con đực thay đổi độ cao của giọng để đảm bảo con cái vẫn có thể nghe được ở khoảng cách xa. Đồng thời, chúng cũng di chuyển chậm lại, kéo dài chuyến hành trình để kết đôi được với nhiều con cái.

Rùa lưng da
Rùa lưng da. Ảnh: graphicshunts.com.
Rùa biển là một loài phi thường trong số những loài bò sát di trú. Năm 2008, người ta đã ghi nhận được một con rùa lưng da băng qua Thái Bình Dương. Từ một bãi biển làm tổ ở Papua (Indonesia), nó bơi hướng về phía đông để đến nơi kiếm ăn ngoài khơi bang Oregon (Mỹ) rồi quay lại. Chuyến vượt biển này dài ít nhất 20.558 km. Đây là quãng đường di cư dài nhất của một loài bò sát từng được ghi nhận.

Nếu không đủ thức ăn, rùa lưng da sẽ bơi xuống sâu hơn 600 m theo rìa của những rặng núi ngầm và sườn lục địa. Đây là độ sâu sâu mà chưa có bất kỳ loài bò sát nào đạt tới.

Nhện kén chọn bữa ăn để sinh tồn

(Khoa học) - Các nhà khoa học thuộc ĐH Masaryk (Czech) vừa phát hiện hiện tượng đặc biệt: nhiều loài côn trùng và động vật ăn thịt, bao gồm cả con người, chọn ăn những phần cơ thể con mồi nhất định nhằm cân bằng lượng dưỡng chất đưa vào cơ thể.

Việc chọn lựa ăn gì không phải là điều quá quan trọng đối với con người khi bước vào bàn ăn tối. Thế nhưng, đối với một số loài ăn thịt như nhện hay mèo hoang, chúng chỉ ăn thường xuyên một hay hai phần đặc biệt trên cơ thể con mồi.

Nghiên cứu đăng tải trên tuần báo Hành vi Động vật, lần đầu tiên miêu tả cách thức các loài ăn thịt có được một chế độ ăn uống cân bằng. Sự lựa chọn này có thể bị điều khiển bởi sự thôi thúc của cơn đói. Ví dụ, với loài nhện ăn kiến Zodarion, đối tượng chính của nghiên cứu, cơn đói thúc ép chúng ăn phần đầu, chân hoặc ruột của kiến.

Stano Pekar, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Khi lũ nhện lựa chọn những phần rất khác nhau của con mồi để ăn, chúng tôi giả thuyết rằng, chúng sẽ chọn những gì mà cơn đói thôi thúc với loại chất dinh dưỡng nhất định. Chúng hoàn toàn dựa trên nhu cầu”.

Để kiểm chứng, các nhà nghiên cứu đã thu nhập nhiều cá thể nhện Zodarion hơn. Đây là một loài nhện ăn đêm, nhỏ và rất hiếm gặp.
Những con nhện lựa chọn ăn những phần nhất định của con kiến, theo đúng nhu cầu dinh dưỡng cơ thể, có tỉ lệ sống sót cao hơn những con ăn toàn bộ con kiến.
Cuộc kiểm tra đầu tiên được tiến hành: các nhà nghiên cứu chuẩn bị và phân tích về mặt dinh dưỡng những bữa ăn dành cho lũ nhện với thực đơn là những món kiến khác nhau. 

Thực đơn gồm: toàn bộ con kiến, phần bụng kiến, phần đầu kiến và những phần phụ khác. Mục đích của họ là phân tích sự lựa chọn của lũ nhện khi ăn các thực đơn khác nhau và tỉ lệ sống sót của chúng trong suốt thời gian kiểm tra. 

Kết quả, tỉ lệ sống sót của những con nhện phụ thuộc một cách rõ ràng vào thực đơn mà nó chọn. Những con nhện ăn toàn bộ con kiến có tỉ lệ sống tồi hơn những con nhện chỉ chọn và ăn những phần nhất định của con kiến. 

Điều này do mỗi phần của con kiến cung cấp những loại chất khác nhau. Phần chân kiến có nhiều nitrogen, trong khi phần đầu có nhiều protein, còn phần bụng có nhiều chất béo, cung cấp nhiều calory hơn. 

Nghiên cứu về việc chọn ăn những phần nhất định trên cơ thể chỉ áp dụng với một số loài nhện, côn trùng và động vật nhất định. Ví dụ như một số loài thuộc họ mèo như báo gê-pa hay sư tử thường hạn chế trong bữa ăn của chúng một số con mồi như linh dương (với báo gê-pa) hay ngựa vằn (với sư tử). 

Chúng cũng lựa chọn những bộ phận nhất định trên cơ thể con mồi và bỏ lại toàn bộ phần khác cho các con thú khác. Ví dụ như khi cần protein, chúng chọn ăn các múi cơ, còn nếu cần lipid, chúng chỉ chọn ăn phần có nhiều mỡ. 

Con người cũng có sự lựa chọn nhất định. Mặc dù hàng ngày, chúng ta có thể ăn rất nhiều loại thức ăn, nhưng thường có xu hướng chọn các loại có chứa hàm lượng calory cao. Điều này thể hiện qua việc chúng ta thường thích ăn món thịt rán hơn là món rau luộc. Lí do là ở hàm lượng chất. 

Những thức ăn nhiều năng lượng như sô cô la, món rán, xào thường có chứa nhiều calory nhất trong mỗi đơn vị khối lượng, trong khi hoa quả và rau có lượng năng lượng cung cấp ít hơn. 

Bên cạnh đó, sự lựa chọn thức ăn cũng thay đổi theo thể trạng cơ thể. Điều này thể hiện khá rõ ở phụ nữ mang thai. Họ có sự lựa chọn khác biệt rõ rệt về những loại thức ăn trong các thời kì mang thai khác nhau, khi đạt ba, sáu hay tám tháng. Điều này liên quan đến nhu cầu về loại dinh dưỡng nhất định của bà mẹ nhằm cung cấp cho sự phát triển của thai nhi. 

Còn đối với những người muốn giảm cân, cách tốt nhất không phải là cố gắng kiểm soát cơn thèm đồ ăn chứa nhiều calory. Thay vào đó, hạn chế cho họ tiếp xúc với loại đồ ăn đó, hoặc thay bằng các đồ ăn thay thế có mùi vị tương tự nhưng ít calory hơn.

Cận cảnh bọ xít hút máu

(Khoa học) - Dưới đây là những hình ảnh về một con bọ xít hút máu người còn sống được tìm thấy ở một nhà dân tại khu vực Trung Kính, Hà Nội.

Xem những hình ảnh này, anh Nguyễn Quang Cường, cán bộ phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) xác nhận đây đúng là con bọ xít hút máu người. 
Theo các nhà khoa học, loại bọ xít hút máu người thường sống ở vùng trung du. Tuy nhiên, theo nhiều độc giả ở Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, TP HCM, Phan Thiết... nơi họ sống cũng có con côn trùng này.


Loài này có thể tìm thấy được ở cả trong những nhà rất sạch sẽ. Chúng thường sống ở những nơi tối như: kẽ giường, tủ...
Loại bọ xít này có cánh nhưng hầu như không bay mà chỉ bò.
Thuộc họ bọ xít ăn sâu, vốn là một họ có ích cho nông nghiệp, nhưng khác với các con khác trong họ, loại bọ xít hút máu người này to hơn và sống dựa vào thức ăn là máu người và gia súc.
Loài côn trùng này thường hoạt động về đêm, còn ban ngày thì trốn rất kỹ ở các ngóc ngách. Vì thế, cách tốt nhất để tiêu diệt nó là tìm, bắt và giết chứ không nên phun thuốc.

Những 'đôi mắt thần' trong tự nhiên

(Khoa học) - Những khả năng quan sát kỳ lạ giúp đôi mắt của một số loài động vật có thể coi là "mắt thần". Đây là món quà quý giá mà tự nhiên ban tặng cho một số loài sinh vật.

Chúng ta hẳn sẽ hài lòng khi đến các phòng khám nhãn khoa kiểm tra thị lực và ra về với kết quả của hai bên mắt đều là 10/10. Tuy nhiên, mắt của con người có tầm nhìn thực sự hạn chế, ít nhất là so với các cặp mắt được liệt kê dưới đây.

Mắt của ruồi "sát thủ"
Đôi mắt của Assasin Fly có một tầm nhìn rất hoàn hảo.
Trên đây là hình ảnh ruồi "sát thủ", vốn hay bị nhầm lẫn với các loài ong nhưng nó “lợi hại” hơn rất nhiều. Sinh sống ở các vùng đồng cỏ trên khắp thế giới, tầm nhìn hoàn hảo cho phép nó tính toán được khoảng cách, tốc độ của các vật thể hay con mồi đang “lảng vảng” phía trước.

Cặp mắt kép với hàng ngàn “ống kính” nhỏ, cung cấp cho nó một tầm nhìn vượt trội và thực sự phát huy hiệu quả khi săn các loại côn trùng nhỏ hơn. 

Mắt đại bàng
Mắt đại bàng có thể nhìn thấy một con chuột ở cách xa 1,6 km.
Mắt đại bàng có kích cỡ và trọng lượng gần giống mắt người. Nhưng chúng có hình dạng khác hẳn. Phía sau lưng mắt chúng phẳng hơn và rộng hơn lưng mắt chúng ta, tạo cho nó một trường quan sát lớn hơn nhiều.

Lưng mắt người có một vùng đặc biệt trên võng mạc gọi là hố thị giác (fovea - nơi tập trung nhiều tế bào nhận sáng). Hố thị giác của người có khoảng 200.000 tế bào hình nón trên mỗi milimét, một con số lớn đến nỗi bạn khó có thể hình dung, nhưng chưa thấm vào đâu so với đại bàng.

Hố thị giác của chúng có khoảng 1 triệu tế bào hình nón trên mỗi milimét. Nó cho phép đại bàng có thể nhìn thấy một con chuột ở cách xa 1,6 km. Điều đó vượt ngoài khả năng của con người.

Thêm một chú ý nhỏ nữa, đại bàng và cú có tới 3 mí mắt và phía dưới thì lớn hơn phía trên, do đó ta có cảm giác chúng nhấp nháy mắt lên thay vì xuống.

Mắt của tắc kè hoa
Đôi mắt của tắc kè hoa có tầm quan sát của loài này lên tới 360 độ.
Mắt của tắc kè hoa thậm chí còn mạnh hơn của đại bàng ở một số “khoảng” trong tầm nhìn.

Là loài vật độc đáo với mí mắt trên và dưới dính với nhau, chỉ có một khe hở nhỏ để quan sát. Tuy nhiên với khả năng cuộn và xoay hai mắt độc lập, tầm quan sát của loài này lên tới 360 độ. Đôi mắt quả là tuyệt vời.

Mắt sò
Mắt sò có khả năng sản sinh để thay thế những con mắt đã mất.
Loài sò có rất nhiều mắt nằm dọc theo mép phải và trái bên trong lớp vỏ. Nếu chẳng may nó bị mất đi con mắt nào đó, nó hoàn toàn có thể sản sinh ra con mắt khác thay thế. Đây là điều mà không loài vật nào khác làm được.

Mắt cá sấu
Mắt cá sấu không có tuyến lệ.
"Nước mắt cá sấu" là một hình ảnh đầy tính ước lệ trong ngôn ngữ, vì trên thực tế, cá sấu chẳng bao giờ khóc. Chúng không hề có tuyến lệ.

Tuy nhiên, đôi mắt của cá sấu có thể tiết ra một loại dịch nhờn từ phía sau mí mắt thứ ba hoặc màng mắt, để bôi trơn hoặc làm sạch mắt và ức chế sự phát triển của các loại vi khuẩn. Các cạnh của màng này có thể được nhìn thấy ở rìa mắt của cá sấu khi nó mở to ra. “Nước mắt” cũng xuất phát từ chỗ này.

Mắt tắc kè
Mắt của loài thằn lằn nhỏ này có thể quan sát vào ban đêm cực tốt.
Bức ảnh trên là hình ảnh một chú tắc kè, một loài thằn lằn nhỏ với đôi mắt rất to. Vào ban đêm, con ngươi của chúng được mở rộng ra hết cỡ để tiếp nhận ánh sáng, do đó chúng quan sát trong đêm tối tốt hơn.

Tuy nhiên, vào ban ngày thì con ngươi chỉ lộ ra một khoảng nhỏ rất bé. Mắt của tắc kè được bảo vệ bởi một lớp màng mỏng sạch và ẩm nhờ việc thường xuyên sử dụng chiếc lưỡi dài của mình để liếm lớp màng này.

Mắt rắn
Mắt rắn không có các mí mắt chuyển động.
Không giống như các họ thằn lằn khác, rắn không có các mí mắt chuyển động, bộ phận có nhiệm vụ nó bảo vệ và bôi trơn cho đôi mắt. Do đó, đôi mắt của nó luôn mở to, nhìn thẳng vào con mồi. Vì vậy, mắt của rắn rất kém, bù lại là khả năng khứu giác đứng đầu trong các loài động vật.

Con ngươi của chúng đôi khi còn được bao quanh bởi các vòng tròn nhỏ nhiều màu như nâu, đỏ, vàng hay xanh lá.

Mắt khỉ Tarsier
Đôi mắt của khỉ Tarsier rất lớn so với kích thước cơ thể và có thể quan sát rất tốt vào ban đêm.
Đây là loại động vật linh trưởng nhỏ nhất được biết đến trên thế giới. Đôi mắt rất lớn so với kích thước cơ thể, song nó lại gây ra sự kém linh hoạt. Tuy nhiên, chiếc cổ có khả năng quay 180 độ giúp nó có tầm quan sát rất tốt. Đôi mắt cũng thực sự hữu dụng khi đêm về, giúp chúng săn mồi rất tốt.

Trên đây chỉ là một số ít các đôi mắt tuyệt diệu và kỳ lạ trong tự nhiên. Có thể nói, thiên nhiên luôn biết cách khiến cho con người trở nên khiêm tốn hơn.

Chim bồ câu mang vi khuẩn gây bệnh cho người

(Khoa học) - Các đàn chim bồ câu bay lượn trên bầu trời ở các thành phố là cảnh tượng thường thấy tại hầu hết các nước trên thế giới. 

Tuy nhiên, một nghiên cứu của các nhà khoa học Tây Ban Nha phát hiện, những con chim bồ câu này có thể mang hai loại vi khuẩn gây bệnh và đe dọa đến sức khỏe con người. 

Các nhà khoa học phát hiện, mặc dù những vi khuẩn này có thể nguy hại đối với sức khỏe con người, tuy nhiên dường như chúng lại không ảnh hưởng cho chim bồ câu. 

Nghiên cứu cho thấy, chim bồ câu có thể trở thành “miền đất hứa” của vi khuẩn có hại. 

Ông Fernando Esperon thuộc Trung tâm nghiên cứu y tế động vật Madrid, phụ trách nhóm nghiên cứu cho biết, động vật là "kho tàng trữ" vi khuẩn nguy hiểm có thể gây bệnh cho con người khi tiếp xúc. Những con chim bồ câu có thể gây nguy hại đối với sức khỏe cộng đồng. 

Trong quá trình nghiên cứu đối với 118 con chim bồ câu tại khu vực thành phố Madrid, các nhà khoa học đã phát hiện 52,6% số chim bồ câu mang vi khuẩn Chlamydophila psittaci, 69,1% mang vi khuẩn Campylobacter jejuni. 

Khi con người nhiễm vi khuẩn Chlamydophila psittaci sẽ xuất hiện triệu chứng bệnh như cảm cúm, và dần dần có thể phát triển thành bệnh viêm phổi nguy hiểm. Trong khi đó, vi khuẩnCampylobacter jejuni là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh kiết lỵ cấp tính ở người./.

Bọ xít hôi nhất được... ăn nhiều nhất

(Khoa học) - Chuyện bọ xít "hút máu người" bị làm rùm beng khiến hình ảnh không mấy "thơm tho" của họ hàng nhà bọ xít càng trở nên méo mó. Ít ai biết rằng, bọ xít có thể được chế biến thành "mồi nhậu" cực kỳ hấp dẫn. 

Nhắc đến loài bọ xít, hẳn phần đông trong chúng ta sẽ nhăn mũi khi liên tưởng đến mùi hôi đặc trưng của loài côn trùng này. Bởi vậy, chuyện biến bọ xít thành món ăn nghe có vẻ thật hoang đường. Tuy nhiên, sự thật về loài bọ xít có thể sẽ thay đổi quan niệm của nhiều người về loài côn trùng “hôi hám” này.

Phó giáo sư – tiến sỹ Vũ Quang Mạnh, giám đốc Trung tâm Đa dạng sinh học trường ĐH Sư Phạm Hà Nội đã kể lại trải nghiệm lý thú về “hương vị” của loài bọ xít.

Trong một lần đi công tác ở Lạng Sơn, tiến sỹ Mạnh đã được đồng nghiệp ở địa phương giới thiệu đến một quán ăn chuyên về… sâu bọ. Trong bữa ăn, đã có ba món được bưng ra. Món thứ nhất là châu chấu, món thứ hai là bọ cúng cơm (ấu trùng chuồn chuồn) và món thứ ba chính là… bọ xít.
Một rổ bọ xít chuẩn bị được chế biến. Ảnh: Du lịch Việt nam.


Nhìn hàng trăm con bọ xít to mẩy bằng đốt ngón tay ngồn ngộn trong chiếc đĩa lớn, người yếu bóng vía hẳn sẽ phải rùng mình. Nhưng đây lại là món ngon nhất trong buổi hôm đó.

Theo lời kể của tiến sỹ Vũ Quang Mạnh, bọ xít được chế biến giòn tan, béo ngậy và có mùi thơm rất quyến rũ. Mùi hôi hắc đặc trưng khiến con người khiếp hãi dường như đã bay biến, không còn để lại một dấu vết nào.

Trong các công đoạn chế biến, bọ xít sống được thả vào chậu nước có pha chút muối. Bị kích thích, chúng phun hết tuyến hôi ra khỏi cơ thể (phản ứng tự vệ của bọ xít khi cảm thấy bị đe dọa). Quá trình nấu chín sẽ phân hủy nốt chất hôi (là hợp chất hữu cơ) còn lại.

“Về nguyên tắc, tất cả các loài bọ xít đều có thể ăn được. Nhưng loài hay được ăn nhất là loài bọ xít sống trên cây nhãn, cây vải. Đây là loài bọ xít có kích thước lớn và có thể nói là… hôi nhất trong họ nhà bọ xít”, tiến sỹ Vũ Quang Mạnh nhận định.
Bọ xít nhãn hôi nhất và được ăn nhiều nhất.
Theo tiến sỹ Mạnh, các loài bọ xít thuộc về bộ côn trùng Cánh nửa (Hemiptera). Tất cả các loài trong bộ này đều mang trong mình một tuyến mùi đặc trưng.

Loài cà cuống, một đại diện nổi tiếng của bộ Cánh nửa cũng mang trong mình một tuyến mùi như thế. Nhưng trái ngược với cái tuyến mùi “kinh khủng” những người anh em bọ xít, tuyến mùi của cà cuống đã trở thành một hương vị bất hủ của văn hóa ẩm thực Việt Nam.

10 loài vật nhỏ nguy hiểm ở Việt Nam

(Khoa Học) - Bị côn trùng cắn không phải là chuyện hiếm trong cuộc sống hàng ngày. Tuy vậy, sự chủ quan, không tiến hành các biện pháp sơ cứu và điều trị cần thiết có thể sẽ dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng.

Bác sỹ Phan Xuân Trung, Trung tâm Medic (TP HCM) cho biết, côn trùng có rất nhiều loại, với tính chất và mức độ độc tính khác nhau. Tùy theo việc bị loài côn trùng nào cắn mà cần có biện pháp xử lý phù hợp.

“Nếu bị những loài nguy hiểm như ong vò vẽ, bọ cạp… đốt thì nên đưa nạn nhân đến cơ sở y tế để các bác sỹ có giải pháp chống độc và ngăn ngừa sốc phản vệ thích hợp. Đối với những loài kém nguy hiểm hơn như kiến lửa, ong mật thì chỉ cần những biện pháp sơ cứu đơn giản, uống thêm thuốc chống dị ứng, chống viêm là được”, bác sỹ Trung nhận định.

Sau đây là một số loài vật nhỏ nguy hiểm ở Việt Nam, những tổn thương và biện pháp sơ cứu cần thực hiện ngay khi bị chúng đốt, theo khuyến cáo của các chuyên gia y tế:

Ong 
Đa phần các loài ong đều có nọc độc, tùy theo loài mà sẽ độc ít hay nhiều. Có loại gây chết người chỉ với trên 10 vết chích như ong vò vẽ, ong đất, nhưng cũng có loại không nguy hiểm nhiều đến sức khỏe như ong mật.

Nọc ong có thành phần chính là protein kèm theo men xâm nhập, men tiêu huyết, tiêu tế bào, các chất gây dị ứng và acetylcholine... Trong trường hợp bị ong đốt quá nặng, nạn nhân sẽ bị tím tái, sốc, trụy tim mạch..., có thể tử vong nếu không được cứu chữa tận tình.

Khi bị ong đốt, việc cần làm đầu tiên là khều kim chích khỏi vùng bị đốt bằng vật nhọn như mũi dao, đầu kim... Không dùng tay nặn để lấy kim, vì sẽ tạo điều kiện cho nọc độc thấm sâu hơn vào cơ thể.

Sau đó, rửa sạch vết chích bằng xà phòng hoặc dung dịch sát trùng, rồi đắp khăn lạnh hay túi chườm nước đá vào vùng bị sưng trong khoảng 15-20 phút để làm giảm đau (không đắp trực tiếp lên chỗ ong đốt).

Kiến lửa 
Vết đốt của kiến lửa không gây nguy hiểm đến tính mạng, nhưng cảm giác nhói buốt dai dẳng thật sự là một điều rất kinh khủng. Nọc của một số loài kiến lửa có thể gây ra những triệu chứng như chóng mặt, hoa mắt, thở gấp hay sốc..., phụ thuộc vào hệ miễn dịch của người bị đốt.

Khi bị kiến lửa đốt nên làm dịu vết cắn với xà phòng và nước, rồi dùng một cục đá chườm trong khoảng 10 phút. Nếu vết cắn bị rộp thì không được chọc vỡ mà phải lấy miếng gạc đặt nhẹ lên vì nếu vết rộp vỡ có thể dẫn tới nhiễm trùng. 


Sâu róm
Sâu róm là ấu trùng của bướm. Chúng không đốt người, nhưng lông gai của hầu hết các loài sâu róm tiết ra chất làm ngứa rát da khi con người chạm phải.

Lông gai của một số loài có thể gây đau nhức dữ dội ở vùng da tiếp xúc, đi kèm với việc mề đay mẩn ngứa do dị ứng. Các nốt xuất huyết có thể xuất hiện trong vòng 2–3 giờ và trong nhiều ngày. Những triệu chứng khác gồm sưng hạch, nhức đầu, sốt, hạ huyết áp và co giật, diễn tiến nặng có thể tử vong.

Khi bị sâu róm bám vào da cần cẩn thận dùng que để lấy sâu ra, phủi sạch các lông gai thấy được. Sau đó rửa sạch da bằng nước xà phòng và đắp lạnh để làm giảm sưng và giảm đau.

Tránh gãi nhiều lên vết ngứa vì điều này có thể làm lông và gai đâm sâu vào trong da gây triệu chứng kéo dài.

Bọ chét, rận, ve chó 
Có kích thước rất nhỏ, các loài côn trùng này có thể sống trong bụi rậm hoặc trên cơ thể nhiều loài vật nuôi như chó, mèo. Những vết đốt của chúng không chỉ gây đau nhói, sưng hay dị ứng mà còn có thể gây cho người bệnh sốt mẩn đỏ. Bọ chét chuột còn là vật trung gian truyền bệnh hạch, từng gây nên dịch làm chết hàng chục triệu người ở châu Âu.

Khi bị các loài côn trùng này cắn, nên kéo chúng thật từ từ, hoặc dùng lửa hơ, bôi cồn, dầu để chúng tự rơi ra, tránh để hàm răng của chúng dính lại da thịt, có thể gây nhiễm trùng. Sau đó rửa chỗ bị cắn bằng xà phòng, rồi bôi cồn hoặc dầu sát trùng vào chỗ bị cắn.

Nhện 
Các loài nhện ở Việt Nam không độc như nhiều đồng loại của chúng ở châu Phi hay Nam Mỹ. Vết đốt của nhện thường làm da phồng lên, đỏ và nhức. Đôi khi gây chóng mặt, sốt nhưng không quá nguy hiểm.

Khi bị nhện đốt cần rửa sạch chỗ bị đốt bằng xà phòng và chườm nước đá. Nếu cần thiết có thể uống aspirin theo chỉ định của bác sĩ.

Bọ cạp
Bọ cạp không phải côn trùng mà là loài động vật thuộc lớp hình nhện. Ở Việt Nam có hai loài bọ cap phổ biến là bọ cạp đen và bọ cạp nâu.

Những vết đốt bằng ngòi chích ở đuôi của các loài bọ cạp này giống như vết ong đốt, gây sưng phồng, đỏ và đau nhức, đôi khi còn bị bầm tím. Có khi nạn nhân chỉ cảm thấy hơi bị ngứa rát ở chỗ bị chích nhưng liền sau đó bị chóng mặt, đổ mồ hôi chảy nước mắt, nước mũi, buồn nôn, cứng chân tay. Một số trường hợp hạn hữu, nọc bọ cạp có thể gây sốc phản vệ, nguy hiểm đến tính mạng.

Trong trường hợp bị bọ cạp đốt, người bị đốt cần chườm nước đá rồi phun thuốc chống đau lên vết đốt hoặc uống thuốc giảm đau loại thành phần có paracetamol. Đối với trẻ em và người dễ có phản ứng với vết đốt, nhất là bị đốt ở mặt, cần đưa đi cấp cứu ngay để được chích thuốc giải độc.

Rết 
Rết là loài động vật thuộc lớp nhiều chân, thường sống ở những nơi tối tăm ẩm thấp như gầm giường, gầm tủ, lá khô mục... kể cả trong quần áo. Chúng có thể tiết chất độc khi cắn bằng hàm răng phía trước, làm đối tượng sưng tấy. Nọc độc của rết không gây chết người, nhưng khiến người bị cắn cực kỳ đau đớn. Những triệu chứng đi kèm là nôn mửa và sốt.

Khi bị rết cắn cần nặn cho nọc độc theo máu ra ngoài bớt. Sau đó rửa sạch vết cắn bằng xà phòng, chườm lạnh tại chổ giúp giảm đau và giảm sưng. Nên sử dụng thêm thuốc giảm đau và kháng viêm.

Muỗi 
Có lẽ, chẳng có ai trên đời này lại chưa từng bị muỗi đốt. Tưởng như vô hại, nhưng muỗi đốt cũng là nguyên nhân làm nhiễm trùng da, gây sốt.

Trong các loài muỗi, muỗi anophen có thể truyền bệnh sốt rét. Những kí sinh trùng này sống và sinh sôi trong tế bào máu của con người và gây ra những triệu chứng như buồn nôn, cúm, sốt và những cơn lạnh. Trong trường hợp nguy hiểm, căn bệnh này khiến người bệnh hôn mê rồi tử vong.

Nên rửa những vết muỗi đốt bằng xà phòng có tính a xít hay nước giấm loãng.

Ruồi trâu 
Ruồi trâu là một loại ruồi lớn thường đốt và và hút máu gia súc. Chúng cũng không tha cho cả con người. Vết đốt của ruồi trâu gây đau nhức dai dẳng, có thể kéo dài nhiều ngày và sinh ra những biến chứng khác như sốt cao, co giật, hôn mê.

Khi bị ruồi trâu đốt, cách xử trí cũng như vết đốt của các loài khác là rửa bằng xà phòng và chườm đá.

Bọ xít hút máu
Ở Việt Nam, việc phát hiện ra loài bọ xít hút máu người đang được dư luận đặc biệt quan tâm.

Theo những nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới, bọ xít hút máu người có thể truyền ký sinh trùng nội bào Trypanosoma cruzi vào cơ thể người qua những vết đốt, gây nên bệnh ngủ chaga.

Mắc căn bệnh nguy hiểm này, nạn nhân sẽ rơi vào tình trạng mệt mỏi, buồn ngủ và mất khả năng miễn dịch. Khi trở thành mãn tính, bệnh có thể gây nghẽn mạch máu dẫn đến tử vong.

Theo ghi nhận tại Việt Nam, sau khi bị bọ xít đốt, trên da người bệnh chỉ thấy một nốt nhỏ màu đỏ, khoảng 1 - 2 mm, không sưng tấy.

Hiện tại, những nghiên cứu về loài côn trùng này ở Việt Nam chưa đầy đủ.

Thủy quái Leviathan không còn là huyền thoại

(Khoa Học) - Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện những dấu tích hóa thạch của một con cá voi cổ đại với bộ răng to lớn đáng sợ.
Với kích thước khổng lồ cũng như bộ răng nhọn này, sinh vật 12 triệu năm tuổi này quả rất xứng với biệt danh “Leviathan” (thủy quái) mà các nhà khoa học dành cho nó trong bài báo trên tờ Nature.
Leviathan là một kẻ săn mồi hung tợn dài 17m, chúng có thể săn thịt cả những con cá voi khác.
Quái vật biển này có thể dài hơn 17m và từng quyết chiến dữ dội với một sinh vật biển khổng lồ khác vào thời đó.

Leviathan có nhiều khả năng là cá nhà táng ngày nay bởi sự tương đồng về kích thước và hình dáng. Nhưng sự giống nhau chỉ có vậy. Trong khi cá nhà táng là một động vật tương đối thụ động thì Leviathan là một kẻ săn mồi hung dữ, biểu thị ở hai hàm răng sắc nhọn. 


Theo TS Christian de Muizon, giám đốc Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên ở Paris, Leviathan có thể săn thịt nhiều loại sinh vật biển từ cá heo, hải cẩu cho đến những con cá voi khác. “Nó là một loại quái vật biển”, ông bày tỏ.

“Và thật thú vị khi chú ý rằng vào lúc đó, ở cùng một vùng nước là một quái vật khác - cá mập khổng lồ dài 15m. Rất có thể giữa chúng đã có những cuộc chiến ác liệt”.
Những nhà nghiên cứu suy đoán rằng Leviathan có thể ăn những con mồi có chiều dài đến 8m. Nó có thể bắt mồi bằng bộ hàm to lớn và xé con mồi thành từng mảnh một cách nhanh chóng, hiệu quả với những cái răng khổng lồ.
Hộp sọ của Leviathan được khám phá tại vùng trầm tích 12 triệu năm tuổi ở Peru.
Một đầu sọ hóa thạch dài 3m của loài quái vật này được các nhà nghiên cứu ở Nam Peru phát hiện vào năm 2008. Sinh viên của TS Christian de Muizon, Olivier Lambert là một trong số đó. Anh kể lại, đó là ngày cuối cùng trong chuyến thám hiểm nghiên cứu của họ. Một trong bốn đồng nghiệp của anh đến và bảo rằng đã tìm thấy một vài thứ rất lý thú. Họ đi theo và được người đó chỉ cho xem.

Lập tức họ nhận ra đó phải là một con cá voi rất lớn và khi quan sát kĩ hơn, họ thấy đó là một cá nhà táng khổng lồ với những cái răng cực lớn. Những chiếc răng gấp đôi chiều dài và đường kính của răng cá nhà táng ngày nay, chúng mọc ra từ hàm trên lẫn hàm dưới. Răng của cá nhà táng hiện đại cũng chỉ mọc ở hàm dưới.

TS Lambert và đồng nghiệp của anh tỏ ra hào hứng với phát hiện này, hóa thạch hộp sọ cho thấy quái vật Leviathan không chỉ là điều hoang đường.

Những nhà nghiên cứu không biết tại sao cá voi cổ đại biến mất. Họ suy đoán rằng sự thay đổi của môi trường sinh thái khiến sinh vật này phải thay đổi thói quen ăn của nó. Điều này có thể đã tạo nên loài cá nhà táng hiền lành hơn ngày hôm nay.

Những tác giả của bài báo trên tờ Nature, những chuyên gia về cá voi đều là người hâm mộ cuốn tiểu thuyết Moby Dick về một con cá bạch táng hung tợn. Vì vậy họ đã quyết định cống hiến phát hiện này cho tác giả, Herman Melville và đặt cho sinh vật một cái tên khoa học đầy đủ là Leviathan melvillei.