Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khoa học. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 11 tháng 7, 2010

Người và thú cùng chung một cơ chế thức-ngủ?

Thông qua toán học để tái hiện cơ chế kiểm soát giấc ngủ khác nhau ở nhiều loài động vật, một nhóm các nhà khoa học đã chứng minh được rằng hệ thống thần kinh kiểm soát chu trình thức-ngủ ở con người chỉ tương đồng với mô hình ngủ của 17 loài động vật có vú khác trong khi phần lớn vẫn còn là một ẩn số. 

Phát hiện trên là kết quả của công trình nghiên cứu công phu của một nhóm các nhà khoa học đến từ Bệnh viện Phụ sản và Brigham (BWH) thuộc Đại học Harvard, Đại học Sydney và Trung tâm Nghiên cứu Giấc ngủ (Australia). Công trình được đăng trên tạp chí PLoS Computational Biology số ra tháng Sáu. 

Chủ nhiệm nhóm nghiên cứu Andrew Phillips cho biết, những phát hiện trên cho thấy mặc dù giấc ngủ của động vật có vú khác nhau đáng kể về biểu hiện, từ việc cá heo ngủ với nửa bộ não cho đến những loài gặm nhấm chỉ chợp mắt nhiều lần, nhưng tất cả đều có chung một nguồn gốc, đó là cơ chế ngủ này đều hết sức linh hoạt và được bảo tồn mang tính cách mạng. 


Nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiên cứu đều cho rằng cơ chế điều khiển giấc ngủ có liên quan chặt chẽ đến cấu trúc của não bộ nhưng với những gì mà các nhà khoa học phát hiện ra trong nghiên cứu này, cơ chế kiểm soát giấc ngủ chỉ có được ở một số loài trong tự nhiên. 

Tuy vậy, đến nay, con người vẫn chưa thể lý giải một cách triệt để rằng yếu tố nào về mặt thể chất là phổ biến đối với tất cả các loài động vật có vú, đặc biệt là sự khác nhau giữa các loài trong cơ chế kiểm soát giấc ngủ. 

Bằng mô hình toán học tinh vi, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra được cái nhìn sâu xa hơn về lý do tại sao các dạng thức-ngủ ở các loài động vật lại đa dạng đến vậy. Chẳng hạn, mô hình này lý giải tại sao một số loài động vật (như cá heo hay hải cẩu) chỉ ngủ với nửa bộ não trong khi một nửa khác vẫn hoạt động. 

Hiện các tác giả của công trình nghiên cứu này đang tiếp tục tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng hơn liệu các loài động vật có vú có cùng chung cơ chế thức-ngủ hay không để có được quan điểm rõ ràng hơn về một cơ chế kỳ diệu của tạo hóa này.

Ngủ nhiều sẽ giúp cơ thể kháng bệnh ký sinh

(Khoa học) - Theo một nghiên cứu mới đây, các loài động vật ngủ lâu hơn sẽ ít phải chịu sự “quấy rầy” của những loài sống ký sinh nhờ các tế bào miễn dịch được tăng cường khả năng “cảnh giác.” 

Tiến sĩ Brian Preston thuộc Viện Nhân chủng học Max Planck ở Leipzig, Đức, đã chỉ đạo một nhóm nghiên cứu quốc tế nhằm chứng minh cho một giả thuyết mới của ông rằng, ngủ giúp cải thiện hệ miễn dịch. 

Ông Brian cho rằng ngủ là một bí ẩn của khoa sinh học. Bất chấp việc chúng ta kiể́m soát vòng đời của động vật và tiến hành hàng trăm công trình thực nghiệm, ta vẫn chưa có đủ lời giải đáp cho chức năng kỳ diệu của giấc ngủ. 

Tương tự như vậy, hiện vẫn chưa có ai lý giải vì sao các loài lại có những nhu cầu khác nhau về thời gian cho giấc ngủ. Trong nấc thang tiến hóa, động vật có vú có thời gian ngủ dao động từ 3-20 giờ một ngày. 


Brian cho biết: “Nghiên cứu của chúng tôi cung cấp thêm một bằng chứng mới rằng giấc ngủ đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các loài động vật trước cuộc tấn công của nhiều sinh vật ký sinh, đại loại như virus hay vi khuẩn." 

Thông qua thông tin về giấc ngủ ở loài động vật có vú, các thông số về hệ thống miễn dịch và các loài ký sinh trong máu của vật chủ, công trình khoa học này đã chỉ ra rằng việc gia tăng giấc ngủ theo đòi hỏi của quá trình tiến hóa có liên quan mật thiết đến số lượng các tế bào miễn dịch trong máu. 

Động vật có vú ngủ với thời gian lâu hơn thì giảm được đáng kể mức vi sinh vật ký sinh trong máu. Theo Tiến sĩ Preston, giấc ngủ tiếp thêm “nhiên liệu sống” cho hệ miễn dịch. 

Trong khi thức, động vật luôn trong trạng thái sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đa dạng về nguồn cung năng lượng, trong đó có nhu cầu tìm kiếm thức ăn, nhu cầu tính dục và chăm sóc con cái. Khi ngủ, động vật tránh được phần lớn các hoạt động này và vì thế mà có thể kịp thời bổ sung năng lượng cho hàng rào bảo vệ tự nhiên của cơ thể.

Tại sao lông của người biến mất?

(VnExpress) - Cái nôi tiến hoá của loài người ở Đông Phi từng trải qua tình trạng cực kì khô nóng trong một thời gian dài và điều đó khiến lông trên cơ thể người tiêu giảm.
Ảnh:
Ảnh: sandiegojack.com.
Nhiều nhà nhân chủng học cho rằng nếu tổ tiên loài người từng sống ở những vùng đất nóng nực thì cơ thể phải tiêu giảm bớt lông, đổ mồ hôi nhiều hơn, dáng người mảnh hơn và đi thẳng để cách ly cơ thể với mặt đất nóng.


Một nghiên cứu mới đây chỉ ra nơi khởi sinh quá trình tiến hoá của loài người ở Đông Phi từng rất nóng trong ít nhất 4 triệu năm.
Ben Passey, nhà địa hoá tại Đại học Johns Hopkins ở Baltimore, Mỹ cùng các đồng nghiệp đã phân tích các mẫu đất cổ từ vùng lòng chảo Turkana thuộc lãnh thổ Kenya và Ethiopia. Đất ở đây chứa nhiều hoá thạch liên quan đến tổ tiên loài người và vượn người. Các chuyên gia nghiên cứu các đồng vị của cacbon (C) và oxy (O).
Khi nhiệt độ giảm, một loại đồng vị hiếm của C là C-13 kết hợp lại với một loại đồng vị hiếm của O là O-18 trong đất. Qua mối liên kết đơn giản này, các nhà khoa học nhận thấy các đồng vị càng liên kết với nhau nhiều thì nhiệt độ của mẫu đất càng thấp.
Kết quả cho thấy đất đai tại vùng Turkana nhiệt độ được duy trì ở mức gần 30oC và đạt mức cao nhất là 35oC trong vòng 4 triệu năm qua. Vì đất hấp thụ nhiệt từ không khí nên khu vực này thực sự rất nóng trong một thời gian dài.
Passey cho có khả năng từ hàng triệu năm trước nhiệt độ không khí đã nóng hơn ngày nay. Tuy nhiên, có thể thảm thực vật và bóng râm lớn khiến nhiệt độ của đất giảm đôi chút. Tại một thời điểm nào đó, chúng ta đã phát triển một khả năng đặc biệt điều chỉnh nhiệt độ cơ thể khi chạy, đó là tiêu giảm lông và đổ mồ hôi. Điều đó giúp con người săn bắt thú dễ dàng hơn trong điều kiện khí hậu khô và nóng.
“Nhiệt độ môi trường càng cao thì con người càng có lợi thế so với các loài có vú khác, đặc biệt là trong lúc chạy”, nhà nhân chủng học Daniel Lieberman tại Đại học Harvard nói.
Lieberman thừa nhận không ai biết chắc loài người bắt đầu đổ mồ hôi và tiêu giảm lông từ khi nào. Tuy nhiên, nghiên cứu trên đã đưa ra một bằng chứng thuyết phục cho thấy các điều kiện thời thiết tác động mạnh mẽ đến những đặc điểm thích nghi của con người đã xuất hiện từ lâu.
Nghiên cứu được đăng trên tạp chí Proceedings of the National Academy of Sciences.

Giới khoa học tranh cãi về bạch tuộc tiên tri

(VnExpress) - Một số chuyên gia sinh vật biển cho rằng con bạch tuộc Paul có thể đã được huấn luyện để quen với cờ Đức; nhưng những người khác khẳng định nó mù màu.
Thầy Paul đã phán Tây Ban Nha vô địch World Cup 2010. Ảnh: AFP.
Một số nhà sinh vật biển và chuyên gia cho rằng nhiều khả năng Paul không có tài tiên tri nào hết, chỉ là chú ấy đã được học để nhận diện lá cờ Đức.
Con bạch tuộc Paul 2 tuổi sinh ra ở Anh và hiện sống trong một viện hải dương học miền tây nước Đức. Paul trở thành ngôi sao toàn cầu sau khi đoán đúng toàn bộ 6 trận có đội tuyển Đức tham gia.
"Nó có một khả năng mà bất cứ tay cá cược nào cũng mơ ước", Tony LaCasse, phát ngôn viên của Viện hải dương New England, Mỹ, nói. "Paul liên tục dự đoán đúng đáng kinh ngạc, nhưng tôi nghi ngờ khả năng ngoại cảm của nó".


Trong mỗi lần dự đoán, hai hộp nhựa chứa thức ăn của bạch tuộc - con trai - và dán quốc kỳ hai nước được thả vào bể kính của bạch tuộc. Paul chọn thức ăn ở hộp đựng cờ nước nào trước thì nước đó thắng.
Mike Henley, nhân viên giữ thú ở công viên quốc gia Smithsonian, Mỹ, cho biết bạch tuộc nằm trong số những sinh vật biển thông minh nhất thế giới. Chúng là những sinh vật ham học hỏi và là những tay săn mồi bản năng. Bạch tuộc nhanh chóng tìm cách chộp thức ăn trong tự nhiên để nuôi sống bản thân.
Tuy nhiên, theo Henley thì khi bị nuôi nhốt như Paul bây giờ, những con bạch tuộc thường phải được huấn luyện để chấp nhận thức ăn chuẩn bị sẵn.
Các nhà sinh vật biển ở viện hải dương New England thường dùng các loại hộp với chốt, nắp và cách sắp xếp khác nhau với những con bạch tuộc để xem chúng có thể lấy được thức ăn hay không. Họ cho rằng khả năng chộp các đồ vật nhanh chóng giải thích vì sao Paul tỏ ra khá kiên định khi chọn đội thắng.
Nhà tiên tri 8 chân chọn Đức thắng hầu hết các trận ở vòng bảng, trừ trận với Serbia. Trận bán kết, nó chọn cờ Tây Ban Nha. Mới đây, Paul lại dự đoán tiếp đội bóng xứ bò tót thắng trận chung kết.
"Nhìn vào chuỗi dự đoán của Paul thì có vẻ như đây là một việc đã được học từ trước", tiến sĩ Jean Boal, giáo sư sinh vật biển tại đại học Millersville bang Pennsylvania, Mỹ, nói.
Boal đã làm việc với các loài thân mềm trong hơn 20 năm. Bà tin rằng những dự đoán đầu tiên của Paul có thể chỉ do may mắn và việc chú liên tục chọn cờ Đức từ giải Euro 2008 là vì loài sinh vật này được học để làm vậy.
"Đó là một dạng tiếp thu nhận thức đơn giản", Boal nói.
Những con bạch tuộc có thể nhận diện các hình dạng và hoa văn và chúng bị hút về phía đó. "Bạch tuộc rất chăm chú học hỏi. Chúng ta có thể huấn luyện chúng, đôi khi theo một cách không chủ ý", Boal cho biết.
Vậy giải thích thế nào về những lần bạch tuộc không chọn cờ Đức? Boal cho rằng trong quá trình học hỏi thì vẫn có đôi lần chúng vẫn chọn những cái không quen thuộc.
Liệu có phải Paul bị thu hút với màu đỏ và vàng trong quốc kỳ của Đức và Tây Ban Nha? Các chuyên gia khẳng định điều này không đúng. Bạch tuộc có tầm nhìn rất tốt nhưng chúng lại bị mù màu.
"Chúng không có khái niệm về màu sắc, mặc dù có thể phân biệt các sắc thái khác nhau của màu xám", Richard Learner, người quản lý các loài cá ở viện hải dương học quốc gia ở Baltimore, bang Maryland, Mỹ, nói.
"Tóm lại là bạn có thể tính tới yếu tố khoảng cách và việc được huấn luyện để giải thích bí mật của khả năng tiên đoán thiên tài của Paul".
Dù vậy, Henley, một người giữ thú ở vườn thú Smithsonian, cho rằng các fan bóng đá sẽ phải đợi đến hôm 11/7 để Paul chứng minh cho cả thế giới tài tiên tri của nó.
"Việc chứng kiến liệu sắp tới Paul có đoán trúng không sẽ rất thú vị", Henley nói. "Cho đến giờ chú ấy đều may mắn. Chúng ta nên mang nó đến Las Vegas".

Thứ Bảy, 10 tháng 7, 2010

Pháp tuyên bố thực hiện ca ghép toàn mặt thực sự đầu tiên

(Dân trí) - Các bác sỹ Pháp mới đây tuyên bố họ mới là những người thực hiện thành công ca phẫu thuật ghép toàn bộ mặt đầu tiên trên thế giới, trong đó có cả ghép mí mắt, ống dẫn lệ, cho một người đàn ông 35 tuổi.


Bác sỹ Laurent Lantieri, người tuyên bố nhóm của ông mới là nhóm thực hiện ca phẫu thuật ghép toàn bộ mặt trên thế giới.
 

Được biết, các bác sỹ đã thực hiện ca phẫu thuật kéo dài 12 giờ từ ngày 26-27/6 đối với bệnh nhân được xác định là Jerome, bị rối loạn gen định hình mặt.

Trưởng nhóm phẫu thuật, bác sỹ Laurent Lantieri, cho rằng đây mới là ca ghép toàn bộ mặt đầu tiên trên thế giới, bởi nó bao gồm cả việc ghép ống dẫn lệ, mí mắt – một việc rất khó và chưa từng có tiền lệ.

Một ca phẫu thuật được cho là ghép toàn bộ mặt tương tự cũng đã được thực hiện tại Tây Ban Nha vào đầu năm nay, nhưng không có phần ghép ống dẫn lệ.

Bác sỹ Lantieri là người trước đây đã từng thực hiện 4 ca ghép mặt một phần và gần như toàn phần. Ông cho biết ca ghép mặt mới nhất bao gồm nối các ống dẫn lệ và thay mí mắt là “vô cùng khó khăn”.

“Bệnh nhân của tôi đang tiến triển rất tốt. Anh ấy đã có thể đi lại, ăn uống và nói chuyện được. Râu đã bắt đầu mọc trở lại trên khuôn mặt mới của anh ấy”, Lantieri cho biết tại bệnh viện Creteil Henri-Mondor, ngoại ô Paris, nơi ca phẫu thuật được diễn ra.

Được biết bệnh nhân đã đợi ca phẫu thuật này suốt 2 năm qua.

Nhóm của bác sỹ Lantieri đã tiến hành phẫu thuật cho một bệnh nhân khác cũng bị rối loạn gen định hình mặt vào năm 2007. Trong ca phẫu thuật đó, khối u của bệnh nhân phát triển lớn và gớm ghiếc đến nỗi người đàn ông không thể ăn, nói bình thường được.Tuy nhiên, chưa đầy 13 tháng sau ca phẫu thuật, người đàn ông đã làm việc trở lại bình thường và đang xem xét sẽ tái hòa nhập cuộc sống.

Nhìn lại các ca ghép mặt trên thế giới
 
Rafael (phải) người được các bác sỹ ở Tây Ban Nha tuyên bố là người đầu tiên trên thế giới được ghép toàn bộ mặt.
 
Các bác sỹ khác cũng tuyên bố thực hiện ghép toàn bộ mặt thành công.

Hồi tháng 4, một nhóm gồm 30 bác sỹ phẫu thuật ở bệnh viện đại học Vall d'Hebron ở Barcelona cho biết họ đã tiến hành một ca ghép toàn bộ mặt cho một người đàn ông trẻ có tên Rafael với mặt bị biến dạng sau khi gặp tai nạn.

Cho đến nay có hàng chục ca phẫu thuật ghép mặt một phần và toàn phần được ghi nhận ở Pháp. Trong số này có 5 ca, với một ca đầu tiên, vào năm 2005. Ca ghép mặt đầu tiên là đối với Isabelle Dinoire, 38 tuổi khi đó. Cô được ghép mũi, môi và cằm của một người hiến tặng sau khi bị chó cắn nát mặt. Ca phẫu thuật do giáo sư về phẫu thuật mặt Bernard Devauchelle thực hiện tại bệnh viện ở Amiens, miền bắc nước Pháp.

 
Isabelle Dinoire, người được ghép mặt đầu tiên trên thế giới.
 
Ca ghép mặt đầu tiên được thực hiện bên ngoài nước Pháp là ở Trung Quốc, vào năm 2006, đối với một bệnh nhân bị gấu cắn. Người đàn ông được ghép mặt đã chết 2 năm sau đó, sau khi ngừng uống thuốc ngăn chặn sự đào thải của cơ thể đối với bộ phận được cấy ghép.

Tháng 4/2009, Lantieri và các đồng nghiệp cũng tuyên bố là nhóm đầu tiên thực hiện ghép một phần mặt và 2 tay cùng lúc cho một người đàn ông.

Ghép mặt được xem là một trong những nhiệm vụ khó khăn nhất trong phẫu thuật. Nó đòi hỏi phải dùng thuật vi phẫu để nối các dây thần kinh và mạch máu trong khi phải đối mặt với nguy cơ đào thải lớn của hệ thống miễn dịch của bệnh nhân.

Thứ Hai, 5 tháng 7, 2010

Dùng 'nước tiểu' để sạc pin

(Khoa học) - Ít người nghĩ đến việc chế tạo ra loại pin sạc điện nhờ nước mặn, thậm chí là cả nước tiểu.

Những người lính tham gia chiến tranh hiện đại, sử dụng rất nhiều thiết bị điện tử, hoạt động nhờ pin. Khi hoạt động trong vùng xa xôi hoặc không có hỗ trợ, tiếp ứng, những thiết bị này có thể trở nên vô dụng vì hết điện. Điều này cực kì nguy hiểm, đặt người lính vào thời khắc khó khăn.

Đó là lý do một hãng sản xuất pin Hàn Quốc chế tạo Metalcell, có thể sạc điện với nước muối, thậm chí là nước tiểu.

Với loại pin MetalCell, các đơn vị quân sự có thể đặt chúng đằng sau những chiếc Humvee, những boongke, nhà kho, các căn cứ quân sự tiền trạm trong hàng năm trời, để dành cho những tình huống cấp thiết.
Hình dạng của pin MetalCell giống như một loại pin cách đây 2.000 năm.


Những chiếc hộp pin MetalCell gồ ghề có hình dáng tương tự như pin Baghdad, xuất hiện vào những thế kỷ đầu tiên sau Công nguyên, cách đây 2.000 năm. Theo nhiều nhà nghiên cứu, pin Baghdad là thiết bị tạo hiệu điện thế đầu tiên trên thế giới.

Cấu tạo của MetalCell vô cùng đơn giản, gồm: các đĩa magie đặt trong hộp chứa, chỉ cần thêm nước mặn là có thể hoạt động. Chất natri trong nước mặn phản ứng với magie, tạo ra nguồn điện có hiệu điện thế thấp nhưng đủ để cấp điện cho nhiều thiết bị như: máy tính xách tay, đèn pin, kính nhìn đêm...

Theo tính toán, loại pin này có thể cấp điện để laptop hoạt động hơn bốn giờ, và tái nạp cho đến khi các đĩa magie bị hao mòn.

Những người lính có thể lấy muối từ thức ăn đông lạnh vẫn mang theo, hay từ chính nguồn nước mặn để tạo lượng natri thích hợp. Đặc biệt, trong những tình thế ngặt nghèo, họ có thể nạp pin MetalCell bằng nước tiểu của mình, nguồn natri dồi dào và sẵn có. 

Khám phá hành trình 'tiêu hóa' của trăn

(Khoa học) - Các nhà khoa học thuộc ĐH Aarhus (Đan Mạch) vừa công bố những hình ảnh đáng kinh ngạc về quá trình tiêu hóa con mồi của một con trăn bằng công nghệ chụp ảnh kỹ thuật cao.

Bằng kỹ thuật hình ảnh tiên tiến là chụp CT và Chụp ảnh Cộng hưởng từ, các diễn biến đáng ngạc nhiên bên trong con trăn 5 kg được hé lộ. Kết quả thu được là những hình đặc biệt, thể hiện những cơ quan khác nhau của con trăn.

Theo các nhà nghiên cứu, con trăn phải mất tới 132 giờ để tiêu hóa hoàn toàn một con chuột. Theo quan sát, từng phần cơ thể con chuột biến mất. Cùng lúc đó, ruột con trăn mở rộng, túi mật co lại và nhịp tim tăng lên 25%.

Ông Henrik Lauridsen, tác giả nghiên cứu giải thích: “Sự gia tăng về kích thước trái tim con trăn có thể liên quan đến số năng lượng nó cần để tiêu hóa con mồi. Loài vật này là kẻ ăn thịt kiên nhẫn, chúng nằm và đợi. Chúng có thể nhịn đói hàng tháng trời và sau đó thưởng thức những bữa ăn khổng lồ. Theo tính toán, chúng có thể tiêu thụ lượng thức ăn tương đương với 50% trọng lượng cơ thể. Để có thể đủ năng lượng cho bữa ăn, chúng phải tái khởi động hệ thống tiêu hóa rất nhanh”.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu còn giải mã cơ cấu hoạt động phức tạp bên trong bộ não của con trăn. Nhờ đó, họ làm rõ nhiều hiểu lầm về giải phẫu học của loài này.

Hansen, đồng tác giả phát biểu: “Kỹ thuật hình ảnh thuận lợi trong việc nghiên cứu, chúng ta không phải giết loài vật để quan sát giải phẫu. Thêm nữa, chúng ta có thể thường xuyên xem xét lại kết quả giải phẫu trực tiếp”. 
Dự án trên còn tiến hành chụp hình nhiều loài vật khác như ếch, rùa, cá sấu và kì đà…

Dưới đây là những hình ảnh đặc biệt cận cảnh quá trình tiêu hóa của loài trăn:
Hình ảnh chụp CT cho thấy con chuột đang bị tiêu hóa trong ruột trăn.


Hình ảnh mặt chụp cắt chiều ngang của con trăn. Từng phần của chuột đang biến mất hoàn toàn. Thời gian tiêu hóa là 132 giờ.
Hình ảnh chụp giải phẫu cấu tạo phức tạp bên trong não con trăn.
Hình ảnh giải phẫu của một con kỳ đà.
Hình ảnh giải phẫu của một con cá sấu.

Khủng long ấp trứng trên mạch nước nóng

(Khoa học) - Các nhà khoa học vừa phát hiện những dấu tích cho thấy, trứng của một số loài khủng long được mẹ chúng đặt ấp trên những mạch nước nóng. 
Ngâm mình trong nước nóng là sở thích của nhiều người vì nó mang đến cảm giác dễ chịu, sảng khoái. Trong nghiên cứu mới đây, các nhà nghiên cứu phát hiện một vài loài khủng long lựa chọn những mạch nước nóng gửi gắm những đứa con còn trong trứng của chúng, để tận dụng nguồn nhiệt ở đây.

Mạch nước nóng Old Faithful ở phía Tây Bắc Argentina là một trong những địa điểm đó. Vào kỷ Cretaceous cách đây hơn 100 triệu năm, thung lũng Sanagaste ở Argentina là một khu vực địa chất có nhiều hoạt động thủy nhiệt, giống như ở ông viên quốc gia Yellowstone (Mỹ) hay Iceland, có nhiều mạch nước nóng giàu khoáng chất, với nhiệt độ gần đạt ngưỡng sôi chạy chằng chịt bên dưới bề mặt đất.

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy khoảng 80 tổ chứa trứng khủng long hóa thạch ở khu vực này, phần lớn trong số chúng chứa từ một tá trứng trở lên. Kỳ lạ hơn, những tổ này đều nằm trong cách khoảng 3m so với các mạch phun nước nóng. Nó cho thấy, thay vì tránh xa các hoạt động thủy nhiệt nguy hiểm, lũ khủng long lại đặt những quả trứng một cách có chủ ý gần các mạch nước nóng, như một cách để ấp trứng trong thời gian 1 -2 tháng đầu tiên.
Hình ảnh về khu vực khai quật các tổ trứng khủng long.

Các nhà khoa học vẫn chưa xác định những loài khủng long nào đã để lại những quả trứng ở đây. Họ không tìm thấy bất kỳ mẩu xương liên quan trực tiếp tới những quả trứng. Nhưng những quả trứng tìm thấy có kích thước rất lớn. Cá biệt, có quả có bán kinh tới hơn 20 cm, lớn hơn nhiều trứng đá điểu.

Ngoài ra, những mẩu xương ở khu vực khai quật được xác định thuộc họ khủng longTitanosaurus. Đây là loài nặng tới trăm tấn và là một trong những loài vật khổng lồ nhất từng tồn tại trên hành tinh.

Grellet-Tinner và Fiorelli, thành viên của nhóm nghiên cứu cho rằng, khu vực đặt tổ được lũ khủng long lựa chọn vì lượng nhiệt năng ở đây đảm bảo để giữ cho những quả trứng khổng lồ ấm áp.
Những vỏ trứng khủng long dày tới gần 8 mm và bán kính 20 cm.
Các nhà khoa học phân tích và thấy rằng, lớp vỏ trứng của chúng cực dày, dao động 1,29 - 7,94 mm. Trong khi đó, vỏ trứng gà chỉ dày khoảng 0,3 mm. Theo Fiorelli, những quả trứng khỏe mạnh sẽ ngày càng dày lên như một sự thích nghi tiến hóa nhằm bảo vệ trứng khỏi sự phá hủy do axit thủy nhiệt tại khu vực này.

Không phải hiếm có những loài khủng long lựa chọn các điều kiện khắc nghiệt để đẻ trứng. Tuy nhiên, khám phá này lần đầu tiên đưa ra bằng chứng về sự phụ thuộc của khủng long vào nhiệt năng của Trái Đất giai đoạn nguyên thủy để tồn tại và phát triển.

'Quái vật biển' không hung hãn

(Khoa học) - Dài hơn một chiếc xe buýt với các xúc tu phủ đầy gai sắc như dao cạo, mực khổng lồ từng được coi là quái vật biển, nhưng thực ra chúng không phải là những kẻ săn mồi dữ tợn như trong các truyền thuyết.
Một con mực Mesonychoteuthis hamiltoni nặng 495 kg, dài gần 8 m bị bắt tại New Zealand vào năm 2007. Ảnh: thesun.co.uk.

Livescience nhận định rằng, phát hiện này không chỉ đi ngược lại hiểu biết của các nhà khoa học về loài mực khổng lồ mà còn là tiền đề để giới khoa học đánh giá lại vai trò của chúng đối với toàn bộ hệ sinh thái ở độ sâu 914-1.830 m dưới biển Nam Cực.

Cách nhìn mới về loài mực khổng lồ bắt nguồn từ việc phân tích dữ liệu của hai nhà hải dương học Rui Rosa thuộc trường Đại học Lisbon (Bồ Đào Nha) và Brad Seibel từ trường Đại học Rhode Island của Mỹ. Họ đã quan sát mối quan hệ giữa sự chuyển hóa (tức là cách các tế bào trong cơ thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng) với kích thước cơ thể ở những loài mực nhỏ hơn trong cùng một họ với loài này, rồi sử dụng các kết quả thu được để dự đoán về quá trình chuyển hóa ở loài mực khổng lồ Mesonychoteuthis hamiltoni.

Trái với dự đoán ban đầu, họ phát hiện ra rằng loài mực khổng lồ có quá trình chuyển hóa chậm và do đó cũng di chuyển chậm hơn. Chúng thường chờ đợi con mồi hơn là chủ động tìm kiếm.

“Mọi người vẫn cho rằng chúng là loài săn mồi hung hãn, nhưng kết quả ghi nhận được lại cho thấy điều ngược lại. Loài mực nặng khoảng nửa tấn với các xúc tu phủ đầy gai lại không khác gì một giọt nước lớn", Rosa nói với Livescience.

Những truyền thuyết nói mực khổng lồ hay tấn công tàu thuyền và giết chết các thủy thủ, song nghiên cứu mới lại lại tạo ra hình ảnh một sinh vật gần như không hoạt động nhiều. Thay vì đuổi theo con mồi, mực khổng lồ lại chờ những con cá bơi ngang qua để bắt.
Ảnh minh họa mực khổng lồ giao chiến với cá voi. Ảnh: hmns.org.
Rosa cho rằng nếu loài mực khổng lồ tiêu tốn ít năng lượng hơn thì rất có thể chúng không phải là nguồn thức ăn ưa thích của cá voi.

“Vì loài mực này máu lạnh hơn chúng ta tưởng nên chúng không thực sự chứa nhiều dinh dưỡng. Cá voi sẽ không thể lấy được nhiều năng lượng từ mực ống khổng lồ, bởi nếu làm thế chúng sẽ phải tiêu thụ rất nhiều mực để duy trì sự sống”, bà Rosa cho biết.

Đồng thời, Rosa cũng nhấn mạnh rằng, hiểu biết về loài mực khổng lồ vẫn còn rất hạn chế. Vì vậy các khám phá mới đều có thể bác bỏ những luận điểm đang tồn tại. Trên thực tế, loài mực khổng lồ sống ở những vùng nước quá sâu và lạnh nên các nhà khoa học gặp vô số khó khăn trong việc thu thập dữ liệu về chúng.

“Chúng ta chưa thực sự tiến hành nghiên cứu trực tiếp bởi ta không thể xuống lòng đại dương và bắt một con về được. Loài người hiểu rõ mặt trăng trên trời hơn là biển cả sâu thẳm ngay trên trái đất. Sự thật hiển nhiên này thể hiện rõ nhất ở Nam Cực", Rosa bình luận.

Giải mã bí ẩn về khứu giác 'siêu' nhạy của cá mập

(Khoa học) - Cá mập có thể ngửi thấy mùi của một giọt máu rơi xuống đại dương từ cách đó 500m hay phân biệt một giọt máu trong một triệu giọt nước biển, điều huyền bí này đã được các nhà khoa học giải đáp.

Các nhà nghiên cứu đến từ ĐH South Florida, Mỹ, đã tìm ra rằng mũi của cá mập sử dụng cơ quan cảm thụ khứu giác để phát hiện ra con mồi chỉ trong vòng nửa giây, bằng với thời gian mùi hương lan đến một bên lỗ mũi và chúng có thể so sánh với bên lỗ mũi còn lại. Ngay khi bắt được tín hiệu, kẻ săn mồi “thượng hạng” này nhanh chóng tiến về phía có mùi hương tỏa ra đầu tiên.

Kết luận trên được đăng trên tạp chí Sinh học ngày nay, giúp giải mã một trong những bí ẩn từ lâu về cá mập. Các nhà khoa học thực hiện nhiều thí nghiệm trên 8 con cá mập nhỏ thuộc họ Squalidae và một chú cá mập nâu xám. Tiến sĩ Jayne Gardiner, trưởng nhóm nghiên cứu, đã gắn hai ống vào phần đầu của những chú cá mập này và thả chúng vào bể nước biển 50 lít, sau đó thả mồi.
Cá mập có thể ngửi thấy mùi của một giọt máu cách nó 500m.

Sau khi quan sát, tiến sĩ Jayne nhận thấy cá mập dựa vào sự kết hợp của các tín hiệu định hướng, mùi thơm và dòng chảy nước để xác định hướng và tìm con mồi. Nếu sự ngắt quãng giữa mùi hương ở một bên lỗ mũi với bên kia vào khoảng 1/10 hoặc 1/2 của một giây thì cá mập sẽ hướng phần đầu về nơi mà chúng ngửi thấy mùi hương lần đầu tiên.

“Đây là một ý tưởng rất thú vị khi loài vật sử dụng sự tập trung để xác định mùi hương. Hầu hết sinh vật đều có hai cơ quan cảm biến với mùi hương, có thể là lỗ mũi hay râu, và chúng sử dụng hai cơ quan này để so sánh với nhau rồi tiến tới bên có dấu hiệu mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, khi các mùi bị phân tán bởi không khí hoặc nước thì việc phân biệt sẽ trở nên khá hỗn loạn”, tiến sĩ Gardiner nhận xét.

Không chỉ làm sáng tỏ những kiến thức về cá mập, nghiên cứu này còn dẫn đến việc sử dụng robot dưới nước được trang bị tốt hơn để tìm nguồn gốc của các vết rò rỉ hóa học như dầu tràn ở khu vực vùng vịnh. “Phát hiện này có thể được áp dụng cho các thiết bị dưới nước. Các robot trước đó được lập trình để theo dấu mùi hương bằng cách so sánh mức độ tập chung của chúng, tuy nhiên robot không thể thực hiện tốt chức năng này như loài vật và không thể nhanh bằng cá mập”, tiến sĩ Gardiner khẳng định. 

Cá mập thường tấn công người khi trăng non

(Khoa học) - Một nghiên cứu mới đây cho thấy số vụ tấn công của cá mập tăng mạnh trong thời gian trăng non, trong ngày chủ nhật và ở vùng nước nông.
Một con cá mập trắng. Ảnh: scrapetv.com.

AFP cho biết, các nhà khoa học của Đại học Florida tại Mỹ phân tích số liệu thống kê về số vụ cá mập tấn công người trong hơn 50 năm qua tại hạt Volusia, bang Florida. Hạt Volusia là một trong những nơi có số vụ cá mập tấn công người cao nhất thế giới.

Trong khoảng thời gian từ năm 1996 tới 2008, cứ 5 vụ cá mập tấn công người trên thế giới thì một vụ xảy ra ở miền trung bang Florida.

Các chuyên gia muốn biết tại sao, ở đâu và khi nào những vụ cá mập tấn công người thường xảy ra. Họ xem xét những điều kiện dễ kích động hành vi tấn công của cá mập tại nhiều bãi biển cát trắng – nơi những con sóng mạnh thu hút sự chú ý của cả những người lướt ván và cá mập. Những động vật ăn thịt dưới biển thường tới những vùng nước có sóng mạnh để săn mồi.

“Con người, cá mập và các nhân tố môi trường kết hợp với nhau để tạo ra những điều kiện thuận lợi cho hành vi tấn công người của cá mập”, George Burgess, một chuyên gia của Đại học Florida, phát biểu.

Burgess nhấn mạnh rằng những vụ tấn công xảy ra nhiều nhất mỗi trong chu kỳ trăng hàng tháng.

“Có lẽ các chu kỳ trăng tác động tới sự di chuyển và hoạt động sinh sản của cá, nguồn thức ăn của cá mập”, Burgess nhận xét.

Tháng 8 là khoảng thời gian số vụ cá mập tấn công người xảy ra nhiều nhất vì khi đó một số lượng lớn người thường xuyên ra biển ở bán cầu bắc, đặc biệt vào chủ nhật.

“Cá mập không phải là những con vật thích săn mồi vào cuối tuần. Thay vào đó chính thói quen giải trí của chúng ta khiến chúng gặp nhiều người nhất vào chủ nhật và ít người nhất vào thứ tư hàng tuần”, Burgess nói.

Những cử động như đập tay xuống mặt nước và đá chân của con người thu hút sự chú ý của cá mập. Chúng luôn nhào tới những bộ phận cơ thể chuyển động của người lướt ván vì nghĩ đó là con mồi. Nhưng các chuyên gia cũng khẳng định, trái với suy nghĩ cuản nhiều người, phần lớn những vụ tấn công của cá mập trên bờ biển Florida không gây chết người. 90% số vụ tấn công chỉ dẫn đến những vết thương nhẹ.

Khám phá bí ẩn của những loài cá mập 'tàng hình'

(Khoa học) - Với khả năng phát sáng và hòa lẫn với màu nước, một số loài cá mập trở nên vô hình hoàn toàn trước con mồi và kẻ thù.

Người Anh có câu tục ngữ: “Trái Đất hình cầu chứ không phải hình khối nên bạn không có góc nào để trốn”. Ở vùng nước mở cũng như vậy. Mọi sinh vật thường xuyên đối mặt với những nguy hiểm trong quá trình sinh tồn.

Thế nhưng, vài loài cá mập đã giải quyết được vấn đề trên bằng cách trở nên "vô hình" đối với con mồi và kẻ thù, theo nghiên cứu mới vừa đăng trên tạp chí Experimental Marine Biology and Ecology.

Theo tiến sĩ Julien Cleas, nghiên cứu đã thống kê hơn 50 loài cá mập khác nhau, bằng 10% tổng số loài cá mập có khả năng phát sáng và tạo ra trò lừa bịp hình ảnh: do phát sáng, chúng gần như vô hình, tạo ra khả năng ngụy trang hòa nhập với màu nước. 

Các nhà khoa học đã tập trung vào một loài cá mập phát sáng đặc biệt, đó là cá mập đốm bụng nhung, với biệt danh là bóng ma đi săn của vùng vịnh. Ánh sáng phát ra của loài cá mập xuất phát từ photophore nằm ở bên trong cơ thể chúng.
Hình ảnh chụp cho thấy khả năng phát sáng của loài cá mập đốm.
Nghiên cứu được tiến hành: những con cá mập đốm ở vùng vịnh Bergen (Nauy) được đưa tới trạm Hải dương Espeland. Khu vực này có điều kiện giống như môi trường sống của chúng: những bể cá lạnh và tối.

Ban đầu, các nhà khoa học đo cường độ phát sáng của mỗi con cá mập. Vài ngày sau, việc này được lặp lại sau khi họ đặt những thiết bị chiếu sáng phía trên bể cá để kiểm tra phản ứng của chúng với ánh sáng.

Ngay khi bị đưa vào bể cá, hầu hết những con cá mập đều tự động phát ra ánh sáng, kéo dài trong một vài giờ. Quang phổ ánh sáng đo được tương tự như ánh sáng chúng phát ra ở vùng nước sâu quê nhà.

Chúng có khả năng tự điều chỉnh mức độ phát sáng phụ thuộc vào sự thay đổi ánh sáng bên ngoài. Khả năng có được nhờ việc sử dụng mắt và tuyến nhỏ trên não nhằm giám sát thông tin về ánh sáng chiếu xuống từ phía trên.

Thêm nữa, miệng của hầu hết loài cá mập nằm ở phần dưới, theo nguyên tắc ngược sáng, nên kẻ thù hay con mồi khó nhận ra sự khác biệt. Điều này cho phép cá mập bắt được con mồi như các loài nhuyễn thể hay cá mà không hề bị phát hiện.

Cleas nhận xét: “Do nhiều loài kẻ thù của chúng có kiểu mắt hướng lên trên, loài cá mập sử dụng phương pháp ngụy trang tại vùng nước mặt trung tầm (300 - 1.000 m dưới mặt nước)."

Ngoài ra, khả năng phát sáng còn được những loài cá mập này dùng để thu hút những con khác giới. Tiến sĩ Claes nói: “Giao tiếp cũng là một phần chức năng của khả năng phát sáng. Một vài phần cơ thể của con vật trở nên sáng hơn ở cự ly gần, đặc biệt là phần xương chậu, nơi chứa các cơ quan sinh dục”.

Nhờ khả năng độc đáo, những loài cá mập phát sáng có khả năng sinh tồn cao hơn những loài khác, vì tránh được sự truy sát của kẻ thù cũng như tiếp cận con mồi dễ dàng.

Đoán sức mạnh đàn ông qua giọng nói

(Khoa học) - Chúng ta có thể đánh giá sức mạnh cơ bắp của nam giới qua giọng nói của họ, vì trong quá trình tiến hóa giọng nói là dấu hiệu cho thấy khả năng chiến đấu của phái mạnh.
Ảnh: blogspot.com.
Newscientist cho biết, Santa Barbara, một nhà khoa học của Đại học California tại Mỹ, cùng các đồng nghiệp ghi âm giọng của hơn 200 người đàn ông mang quốc tịch Mỹ, Argentina, Bolivia và Romania đang học tại trường. Tất cả đối tượng tham gia nghiên cứu đều nhắc lại một cụm từ ngắn bằng tiếng mẹ đẻ. Sau đó nhóm chuyên gia yêu cầu các tình nguyện viên thực hiện nhiều bài tập để đánh giá sức mạnh cơ bắp của họ.

Nhóm nghiên cứu cho sinh viên trong trường Đại học California nghe những đoạn ghi âm rồi yêu cầu họ đánh giá sức mạnh của người nói dựa trên một thang điểm từ 1 tới 7. Sau đó các chuyên gia so sánh kết quả đánh giá của sinh viên với dữ liệu mà họ thu được trong những bài kiểm tra thể lực dành cho hơn 200 người đàn ông. Kết quả cho thấy nhóm sinh viên dự đoán khá chính xác sức mạnh của những người đàn ông, dù họ không xác định được chất giọng đặc trưng của những người khỏe và yếu.

Giọng nói của con người có nhiều yếu tố cấu thành, song những yếu tố nào liên quan tới sức mạnh cơ bắp vẫn là một bí ẩn. Giới khoa học vẫn chưa tìm ra sự tương quan giữa sức mạnh cơ bắp của nam giới với độ cao và âm sắc của giọng nói.

David Puts, một chuyên gia của Đại học Pennsylvania tại Mỹ, nói rằng một số nghiên cứu trước đây cho thấy đàn ông càng khỏe thì giọng của họ càng trầm.

Cuộc xâm lăng của cua độc vào Bắc Hải

(Khoa học) - Một nghiên cứu mới đây cho biết, sự biến đổi khí hậu đã khiến một quần thể cua độc Henslow rời quê nhà và xâm chiếm vùng biển Bắc thuộc châu Âu, gây ra sự biến đổi lớn về hệ sinh thái biển.

Những con cua kỳ lạ này bơi từ vùng biển ấm thuộc Bồ Đào Nha tới vùng biển thuộc phía đông nước Anh. Các chuyên gia đã phát hiện ra điều này khi nghiên cứu sự gia tăng của ấu trùng của loài giáp xác thuộc biển Bắc. Đó là những ấu trùng có kích thước rất nhỏ của tôm và cua. Nhiệt độ của biển Bắc tăng lên một độ C trong vòng ba thập kỷ vừa qua. Điều đó đã làm cho những con cua bơi đến đây ngày càng nhiều.

Cua là một loài động vật săn mồi rất nhanh nhẹn. Không giống như các loài động vật cùng họ khác chỉ sinh sống quanh những bờ biển nơi sinh ra khi trưởng thành, loài cua có những cái càng to và dẹt ở phía trước rất hữu ích, được sử dụng để bơi trên mặt biển thành bầy đàn với một số lượng rất lớn.

Nghiên cứu về hành vi kỳ lạ của loài cua bơi Henslow khi xuất hiện tại biển Bắc được đăng tải trên tờ Biology Letters của Tổ chức Royal Society. Trưởng nhóm nghiên cứu là tiến sĩ Richard Kirby thuộc ĐH Plymouth (Anh) cùng hợp tác với tiến sĩ Alistair Lindley thuộc Hiệp hội Khoa học Đại đương và những người cộng tại trạm hàng hải Wimereux (Pháp). 

Cua và tôm là những loài động vật ăn thịt quan trọng, từ dạng ấu trùng cho đến những con trưởng thành. Chúng ảnh hưởng đến sự đa dạng của các loài động vật khác như động vật có vỏ và loại cá dẹt. Loài cua bơi Henslow sẽ trở thành một kẻ ăn thịt mới cực kỳ quan trọng trong quần thể động vật nhỏ ở biển Bắc.
Hình ảnh loài cua Henslow.
Theo các chuyên gia, sự gia tăng số lượng cá thể loài cua này có thể sẽ ảnh hưởng hưởng lớn đến mạng lưới thức ăn ở biển Bắc. Họ cho rằng sự xuất hiện của những loài cua và tôm mới giải thích được sự ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới lượng thức ăn của biển, từ đó sẽ dẫn đến sự thay đổi đột ngột trong hệ sinh thái biển Bắc.

Tiến sĩ Kirby cho biết: “Hiện nay, biển Bắc đã nóng hơn một độ C so với 30 năm trước. Điều này có nghĩa là số lượng ấu trùng cua và tôm trong những sinh vật phù du và những con trưởng thành trên biển đã tăng lên. Loài cua bơi Henslow rất khác thường, với đặc tính sống ở ngoài khơi khi trưởng thành. Chính điều này giúp nó có khả năng chinh phục vùng nước ấm biển Bắc khi rời quê nhà Đại Tây Dương”. 
Tại phía nam biển Bắc, tỷ lệ tôm và cua so với những sinh vật hai mảnh như sò, ốc… trong những sinh vật phù du đã tăng nên gấp đôi kể từ thập niên 1980. Quan trọng hơn, chúng ta thấy sự thay đổi tương tự đối với những con trưởng thành ở đáy biển.

Các nhà khoa học tin rằng sự thay đổi trong hệ thống các loài động vật giáp xác ở biển Bắc có thể đóng một vai trò quan tọng trong việc tuyên truyền về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, cụ thể là đến hệ sinh thái của biển Bắc. Tác động làm xuất hiện những loài sứa trong hệ thống những sinh vật phù du, những loài động vật giáp xác, những con nhím biển , vượt qua cả những ngư trường đánh cá thương mại.

Những lời dự đoán về sự biến đổi khí hậu toàn cầu cho thấy những vùng biển xung quanh chúng ta sẽ còn tiếp tục ấm lên. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ còn nhìn thấy nhiều hơn sự xuất hiện của những loài động vật nước ấm mà sẽ có thể làm thay đổi hệ sinh thái biển Bắc nhiều hơn nữa. 

Chủ Nhật, 4 tháng 7, 2010

Những chuyến di cư vĩ đại

(Khoa học) - Rùa lưng da vượt quãng đường hơn 20.000 km để kiếm ăn, còn nhạn biển Bắc Cực thường xuyên vượt quãng đường hơn 80.000 km để thay đổi chỗ ở.

Nhiều loài động vật di chuyển hàng nghìn km mỗi năm để tìm kiếm thức ăn và kết đôi. Dưới đây là một số loài có những cuộc hành trình dài nhất theo bình chọn của Newscientist.

Nhạn biển Bắc cực
Nhạn biển Bắc Cực. Ảnh: Newscientist.
Chim là loài vật di trú nổi tiếng nhất và trong số đó quán quân thế giới chính là nhạn biển Bắc cực Sterna paradisaea. Hàng năm, chúng bay suốt chặng đường từ nơi cư trú mùa hè là Greenland và Iceland đến biển Weddell ngoài khơi Nam Cực. Vì nhạn biển Bắc Cực bay theo đường vòng nên nhiều khi chúng phải vượt qua quãng đường dài tới 81.600 km một năm. 

Nhạn biển Bắc cực có một lợi thế lớn: chúng là loài chim biển nên có thể kiếm ăn trong quá trình di chuyển. Những loài chim trong đất liền không có may mắn đó.

Choắt mỏ thẳng đuôi vằn
Choắt mỏ thẳng đuôi vằn. Ảnh: Rex Features.
Trong số các phân loài của choắt mỏ thẳng đuôi vằn thì loài bay bền bỉ nhất là Limosa lapponica baueri di cư từ Alaska đến Australia và New Zealand.

Là một loài chim trên đất liền nên chúng không thể kiếm ăn trên biển. Vì vậy cuộc hành trình dài 11.000 km không ngừng nghỉ chỉ được kéo dài từ 6 đến 8 ngày. Để hoàn thành chuyến đi, chúng phải làm tiêu bớt một phần ruột, gan và thận để giảm bớt khối lượng rồi sau sẽ tái tạo lại. Đây là chuyến bay liên tục, không dừng lại để kiếm ăn dài nhất trong thế giới động vật.

Một nghiên cứu mới đây cũng khẳng định rằng kỷ lục của loài choắt mỏ thẳng đuôi vằn sẽ khó có thể bị phá vỡ.

Cá voi lưng gù
Cá voi lưng gù. Ảnh: blogspot.com.
Trong số các loài có vú, nắm giữ kỷ lục về chuyến di trú dài nhất là cá voi lưng gù Megaptera novaeangliae. Chúng dành cả mùa hè để kiếm ăn trong những vùng biển gần cực lạnh giá rồi bơi đến những vùng nước ấm nhiệt đới để nuôi con trong suốt mùa đông.

Đến mùa đông, loài cá voi lưng gù di cư lên phía bắc đến Costa Rica qua quãng đường dài 8.300 km.

Cá voi lưng gù đực hát trong khi bơi - có thể là để thu hút con cái. Con đực thay đổi độ cao của giọng để đảm bảo con cái vẫn có thể nghe được ở khoảng cách xa. Đồng thời, chúng cũng di chuyển chậm lại, kéo dài chuyến hành trình để kết đôi được với nhiều con cái.

Rùa lưng da
Rùa lưng da. Ảnh: graphicshunts.com.
Rùa biển là một loài phi thường trong số những loài bò sát di trú. Năm 2008, người ta đã ghi nhận được một con rùa lưng da băng qua Thái Bình Dương. Từ một bãi biển làm tổ ở Papua (Indonesia), nó bơi hướng về phía đông để đến nơi kiếm ăn ngoài khơi bang Oregon (Mỹ) rồi quay lại. Chuyến vượt biển này dài ít nhất 20.558 km. Đây là quãng đường di cư dài nhất của một loài bò sát từng được ghi nhận.

Nếu không đủ thức ăn, rùa lưng da sẽ bơi xuống sâu hơn 600 m theo rìa của những rặng núi ngầm và sườn lục địa. Đây là độ sâu sâu mà chưa có bất kỳ loài bò sát nào đạt tới.

Nhện kén chọn bữa ăn để sinh tồn

(Khoa học) - Các nhà khoa học thuộc ĐH Masaryk (Czech) vừa phát hiện hiện tượng đặc biệt: nhiều loài côn trùng và động vật ăn thịt, bao gồm cả con người, chọn ăn những phần cơ thể con mồi nhất định nhằm cân bằng lượng dưỡng chất đưa vào cơ thể.

Việc chọn lựa ăn gì không phải là điều quá quan trọng đối với con người khi bước vào bàn ăn tối. Thế nhưng, đối với một số loài ăn thịt như nhện hay mèo hoang, chúng chỉ ăn thường xuyên một hay hai phần đặc biệt trên cơ thể con mồi.

Nghiên cứu đăng tải trên tuần báo Hành vi Động vật, lần đầu tiên miêu tả cách thức các loài ăn thịt có được một chế độ ăn uống cân bằng. Sự lựa chọn này có thể bị điều khiển bởi sự thôi thúc của cơn đói. Ví dụ, với loài nhện ăn kiến Zodarion, đối tượng chính của nghiên cứu, cơn đói thúc ép chúng ăn phần đầu, chân hoặc ruột của kiến.

Stano Pekar, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: “Khi lũ nhện lựa chọn những phần rất khác nhau của con mồi để ăn, chúng tôi giả thuyết rằng, chúng sẽ chọn những gì mà cơn đói thôi thúc với loại chất dinh dưỡng nhất định. Chúng hoàn toàn dựa trên nhu cầu”.

Để kiểm chứng, các nhà nghiên cứu đã thu nhập nhiều cá thể nhện Zodarion hơn. Đây là một loài nhện ăn đêm, nhỏ và rất hiếm gặp.
Những con nhện lựa chọn ăn những phần nhất định của con kiến, theo đúng nhu cầu dinh dưỡng cơ thể, có tỉ lệ sống sót cao hơn những con ăn toàn bộ con kiến.
Cuộc kiểm tra đầu tiên được tiến hành: các nhà nghiên cứu chuẩn bị và phân tích về mặt dinh dưỡng những bữa ăn dành cho lũ nhện với thực đơn là những món kiến khác nhau. 

Thực đơn gồm: toàn bộ con kiến, phần bụng kiến, phần đầu kiến và những phần phụ khác. Mục đích của họ là phân tích sự lựa chọn của lũ nhện khi ăn các thực đơn khác nhau và tỉ lệ sống sót của chúng trong suốt thời gian kiểm tra. 

Kết quả, tỉ lệ sống sót của những con nhện phụ thuộc một cách rõ ràng vào thực đơn mà nó chọn. Những con nhện ăn toàn bộ con kiến có tỉ lệ sống tồi hơn những con nhện chỉ chọn và ăn những phần nhất định của con kiến. 

Điều này do mỗi phần của con kiến cung cấp những loại chất khác nhau. Phần chân kiến có nhiều nitrogen, trong khi phần đầu có nhiều protein, còn phần bụng có nhiều chất béo, cung cấp nhiều calory hơn. 

Nghiên cứu về việc chọn ăn những phần nhất định trên cơ thể chỉ áp dụng với một số loài nhện, côn trùng và động vật nhất định. Ví dụ như một số loài thuộc họ mèo như báo gê-pa hay sư tử thường hạn chế trong bữa ăn của chúng một số con mồi như linh dương (với báo gê-pa) hay ngựa vằn (với sư tử). 

Chúng cũng lựa chọn những bộ phận nhất định trên cơ thể con mồi và bỏ lại toàn bộ phần khác cho các con thú khác. Ví dụ như khi cần protein, chúng chọn ăn các múi cơ, còn nếu cần lipid, chúng chỉ chọn ăn phần có nhiều mỡ. 

Con người cũng có sự lựa chọn nhất định. Mặc dù hàng ngày, chúng ta có thể ăn rất nhiều loại thức ăn, nhưng thường có xu hướng chọn các loại có chứa hàm lượng calory cao. Điều này thể hiện qua việc chúng ta thường thích ăn món thịt rán hơn là món rau luộc. Lí do là ở hàm lượng chất. 

Những thức ăn nhiều năng lượng như sô cô la, món rán, xào thường có chứa nhiều calory nhất trong mỗi đơn vị khối lượng, trong khi hoa quả và rau có lượng năng lượng cung cấp ít hơn. 

Bên cạnh đó, sự lựa chọn thức ăn cũng thay đổi theo thể trạng cơ thể. Điều này thể hiện khá rõ ở phụ nữ mang thai. Họ có sự lựa chọn khác biệt rõ rệt về những loại thức ăn trong các thời kì mang thai khác nhau, khi đạt ba, sáu hay tám tháng. Điều này liên quan đến nhu cầu về loại dinh dưỡng nhất định của bà mẹ nhằm cung cấp cho sự phát triển của thai nhi. 

Còn đối với những người muốn giảm cân, cách tốt nhất không phải là cố gắng kiểm soát cơn thèm đồ ăn chứa nhiều calory. Thay vào đó, hạn chế cho họ tiếp xúc với loại đồ ăn đó, hoặc thay bằng các đồ ăn thay thế có mùi vị tương tự nhưng ít calory hơn.

Cận cảnh bọ xít hút máu

(Khoa học) - Dưới đây là những hình ảnh về một con bọ xít hút máu người còn sống được tìm thấy ở một nhà dân tại khu vực Trung Kính, Hà Nội.

Xem những hình ảnh này, anh Nguyễn Quang Cường, cán bộ phòng Côn trùng học Thực nghiệm, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện khoa học và công nghệ Việt Nam) xác nhận đây đúng là con bọ xít hút máu người. 
Theo các nhà khoa học, loại bọ xít hút máu người thường sống ở vùng trung du. Tuy nhiên, theo nhiều độc giả ở Hà Nội, Hải Phòng, Đồng Nai, TP HCM, Phan Thiết... nơi họ sống cũng có con côn trùng này.


Loài này có thể tìm thấy được ở cả trong những nhà rất sạch sẽ. Chúng thường sống ở những nơi tối như: kẽ giường, tủ...
Loại bọ xít này có cánh nhưng hầu như không bay mà chỉ bò.
Thuộc họ bọ xít ăn sâu, vốn là một họ có ích cho nông nghiệp, nhưng khác với các con khác trong họ, loại bọ xít hút máu người này to hơn và sống dựa vào thức ăn là máu người và gia súc.
Loài côn trùng này thường hoạt động về đêm, còn ban ngày thì trốn rất kỹ ở các ngóc ngách. Vì thế, cách tốt nhất để tiêu diệt nó là tìm, bắt và giết chứ không nên phun thuốc.

Những 'đôi mắt thần' trong tự nhiên

(Khoa học) - Những khả năng quan sát kỳ lạ giúp đôi mắt của một số loài động vật có thể coi là "mắt thần". Đây là món quà quý giá mà tự nhiên ban tặng cho một số loài sinh vật.

Chúng ta hẳn sẽ hài lòng khi đến các phòng khám nhãn khoa kiểm tra thị lực và ra về với kết quả của hai bên mắt đều là 10/10. Tuy nhiên, mắt của con người có tầm nhìn thực sự hạn chế, ít nhất là so với các cặp mắt được liệt kê dưới đây.

Mắt của ruồi "sát thủ"
Đôi mắt của Assasin Fly có một tầm nhìn rất hoàn hảo.
Trên đây là hình ảnh ruồi "sát thủ", vốn hay bị nhầm lẫn với các loài ong nhưng nó “lợi hại” hơn rất nhiều. Sinh sống ở các vùng đồng cỏ trên khắp thế giới, tầm nhìn hoàn hảo cho phép nó tính toán được khoảng cách, tốc độ của các vật thể hay con mồi đang “lảng vảng” phía trước.

Cặp mắt kép với hàng ngàn “ống kính” nhỏ, cung cấp cho nó một tầm nhìn vượt trội và thực sự phát huy hiệu quả khi săn các loại côn trùng nhỏ hơn. 

Mắt đại bàng
Mắt đại bàng có thể nhìn thấy một con chuột ở cách xa 1,6 km.
Mắt đại bàng có kích cỡ và trọng lượng gần giống mắt người. Nhưng chúng có hình dạng khác hẳn. Phía sau lưng mắt chúng phẳng hơn và rộng hơn lưng mắt chúng ta, tạo cho nó một trường quan sát lớn hơn nhiều.

Lưng mắt người có một vùng đặc biệt trên võng mạc gọi là hố thị giác (fovea - nơi tập trung nhiều tế bào nhận sáng). Hố thị giác của người có khoảng 200.000 tế bào hình nón trên mỗi milimét, một con số lớn đến nỗi bạn khó có thể hình dung, nhưng chưa thấm vào đâu so với đại bàng.

Hố thị giác của chúng có khoảng 1 triệu tế bào hình nón trên mỗi milimét. Nó cho phép đại bàng có thể nhìn thấy một con chuột ở cách xa 1,6 km. Điều đó vượt ngoài khả năng của con người.

Thêm một chú ý nhỏ nữa, đại bàng và cú có tới 3 mí mắt và phía dưới thì lớn hơn phía trên, do đó ta có cảm giác chúng nhấp nháy mắt lên thay vì xuống.

Mắt của tắc kè hoa
Đôi mắt của tắc kè hoa có tầm quan sát của loài này lên tới 360 độ.
Mắt của tắc kè hoa thậm chí còn mạnh hơn của đại bàng ở một số “khoảng” trong tầm nhìn.

Là loài vật độc đáo với mí mắt trên và dưới dính với nhau, chỉ có một khe hở nhỏ để quan sát. Tuy nhiên với khả năng cuộn và xoay hai mắt độc lập, tầm quan sát của loài này lên tới 360 độ. Đôi mắt quả là tuyệt vời.

Mắt sò
Mắt sò có khả năng sản sinh để thay thế những con mắt đã mất.
Loài sò có rất nhiều mắt nằm dọc theo mép phải và trái bên trong lớp vỏ. Nếu chẳng may nó bị mất đi con mắt nào đó, nó hoàn toàn có thể sản sinh ra con mắt khác thay thế. Đây là điều mà không loài vật nào khác làm được.

Mắt cá sấu
Mắt cá sấu không có tuyến lệ.
"Nước mắt cá sấu" là một hình ảnh đầy tính ước lệ trong ngôn ngữ, vì trên thực tế, cá sấu chẳng bao giờ khóc. Chúng không hề có tuyến lệ.

Tuy nhiên, đôi mắt của cá sấu có thể tiết ra một loại dịch nhờn từ phía sau mí mắt thứ ba hoặc màng mắt, để bôi trơn hoặc làm sạch mắt và ức chế sự phát triển của các loại vi khuẩn. Các cạnh của màng này có thể được nhìn thấy ở rìa mắt của cá sấu khi nó mở to ra. “Nước mắt” cũng xuất phát từ chỗ này.

Mắt tắc kè
Mắt của loài thằn lằn nhỏ này có thể quan sát vào ban đêm cực tốt.
Bức ảnh trên là hình ảnh một chú tắc kè, một loài thằn lằn nhỏ với đôi mắt rất to. Vào ban đêm, con ngươi của chúng được mở rộng ra hết cỡ để tiếp nhận ánh sáng, do đó chúng quan sát trong đêm tối tốt hơn.

Tuy nhiên, vào ban ngày thì con ngươi chỉ lộ ra một khoảng nhỏ rất bé. Mắt của tắc kè được bảo vệ bởi một lớp màng mỏng sạch và ẩm nhờ việc thường xuyên sử dụng chiếc lưỡi dài của mình để liếm lớp màng này.

Mắt rắn
Mắt rắn không có các mí mắt chuyển động.
Không giống như các họ thằn lằn khác, rắn không có các mí mắt chuyển động, bộ phận có nhiệm vụ nó bảo vệ và bôi trơn cho đôi mắt. Do đó, đôi mắt của nó luôn mở to, nhìn thẳng vào con mồi. Vì vậy, mắt của rắn rất kém, bù lại là khả năng khứu giác đứng đầu trong các loài động vật.

Con ngươi của chúng đôi khi còn được bao quanh bởi các vòng tròn nhỏ nhiều màu như nâu, đỏ, vàng hay xanh lá.

Mắt khỉ Tarsier
Đôi mắt của khỉ Tarsier rất lớn so với kích thước cơ thể và có thể quan sát rất tốt vào ban đêm.
Đây là loại động vật linh trưởng nhỏ nhất được biết đến trên thế giới. Đôi mắt rất lớn so với kích thước cơ thể, song nó lại gây ra sự kém linh hoạt. Tuy nhiên, chiếc cổ có khả năng quay 180 độ giúp nó có tầm quan sát rất tốt. Đôi mắt cũng thực sự hữu dụng khi đêm về, giúp chúng săn mồi rất tốt.

Trên đây chỉ là một số ít các đôi mắt tuyệt diệu và kỳ lạ trong tự nhiên. Có thể nói, thiên nhiên luôn biết cách khiến cho con người trở nên khiêm tốn hơn.

Ti vi càng 'xịn', truyền hình càng chậm

(Khoa học) - Khi World Cup và Wimbledon vào mùa, những trận thi đấu trực tiếp liên tục được phát sóng trên ti vi thì nhiều người dấy lên thắc mắc tại sao ti vi nhà hàng xóm lại phát nhanh hơn nhà mình?

Trong các văn phòng, những tín đồ của trái bóng cảm thấy khó chịu khi đồng nghiệp phòng bên hét lên sung sướng mỗi lần đội nhà ghi bàn, còn ti vi của họ phải mất vài giây mới bắt kịp. Tương tự, nhiều người tỏ ra bức bối khi nhà hàng xóm huyên náo trước những pha bóng đẹp trước mình. Vậy lời giải thích là gì?

Câu trả lời nằm ở cả hệ ti vi và phương pháp truyền sóng mà mỗi ti vi nhận được. Tại nhà, thiết bị số bao gồm phần mềm được lập trình để giải mã tín hiệu phát sóng, nếu mất nhiều thời gian để giải mã chi tiết thì sẽ dẫn đến sự chậm trễ trong thời gian ngắn. 

Ở mùa giải năm nay, người xem truyền hình qua tín hiệu analogue hay dùng cách “cổ” là ăng-ten lắp trực tiếp phía trên ti-vi sẽ nhận được tín hiệu đầu tiên. Sự chậm trễ trong các buổi phát sóng trực tiếp của những ti vi như trên chỉ mất chưa đầy một giây.
Bạn thường xuyên phải nghe hàng xóm hô "Vào" trước trong mùa World Cup?
Điều đó lý giải tại sao xem ti vi analogue, ti vi cũ sẽ nhanh hơn một vài giây so với các "hàng xóm" có độ phân giải cao khác do phải mất nhiều thời gian hơn để giải mã tín hiệu chất lượng cao.

Tuy nhiên, độ phân giải cao của ti vi không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến sự chậm trễ này. Chính sự kết nối với nhà đài mới là căn nguyên của sự khác biệt này. Mỗi hãng truyền hình có một phương pháp mã hóa dấu hiệu số riêng và chúng khác nhau về thời gian.

Jos Hirst, giảng viên môn công nghệ âm thanh, ĐH Salford, Manchester, cho biết: “Tín hiệu số có thể giải mã ở bất kỳ thiết bị nào mà bạn sử dụng. Mỗi ti vi có hệ giải mã khác nhau nhưng chính nơi phát sóng gần như quyết định toàn bộ sự chậm trễ đó”.

Tương tự, khi theo dõi các sự kiện thể thao trực tuyến, người xem cũng có thể gặp một số trường hợp chậm trễ nhỏ khi tín hiệu phải đi qua một mạng lưới IP.

Trong thời đại công nghệ phát triển vượt bậc như hiện nay, có rất nhiều cách khác nhau để tiếp cận với nhiều chương trình phát sóng trực tiếp, tuy nhiên, các chuyên gia nhận định, chất lượng phát sóng càng cao thì tín hiệu càng chậm. 

Giấc mơ có thể định hướng và vận hành tư duy?

(Khoa học) - Giấc mơ chính là một phần của đời sống thực, nó không chỉ là sự phản ánh tư duy một cách đơn thuần mà còn góp phần định hướng và vận hành tư duy. Đó là phát hiện của nhà tâm lý học Deirdre Barrett thuộc Đại học Harvard sau một thời gian nghiên cứu về các giấc mơ của con người. 

Như vậy, tư duy trong lúc ngủ có thể không̣ thích hợp cho bất cứ công việc quan trọng nào, nhưng con người lại có thể giải quyết được một số vấn đề trong khi... mơ ngủ. 

Không những thế, một đề xuất trong lúc mơ ngủ có thể giúp chúng ta tìm ra giải pháp đối với những toan tính dày vò chúng ta hàng giờ khi thức. 

Những giấc mơ thường mang tính hình tượng cao và về bản chất là phi logic lại chính là chìa khóa giúp chúng ta vượt ra ngoài khuôn khổ hạn hẹp của tư duy thông thường để tìm lời giải cho những vấn đề cần giải quyết - đó là nhận định của nhà tâm lý học Deirdre Barrett. 


Lý thuyết của Barrett về giấc mơ, mà bà thảo luận tại hội nghị của Hiệp hội Tâm lý học diễn ra vào cuối tháng Năm, đã khuấy động giới khoa học về một vấn đề rằng: Giấc mơ thực sự chỉ là suy nghĩ, nhưng trong một trạng thái tương đối khác so với khi đôi mắt của chúng ta mở to. Giấc mơ là một góc bí ẩn của tư duy. 

Barette khẳng định: "Bất cứ trạng thái nào mà chúng ta trải qua đều nhằm xoay quanh cùng một vấn đề.” 
Mặc dù giấc mơ thoạt đầu chỉ thay đổi theo một hướng khác song chúng có thể ngày càng trở nên tinh tế hơn theo thời gian vì thế mà chúng có thể mang hai nhiệm vụ: Giúp não tái khởi động và giải quyết vấn đề. 

Sigmund Freud - nhà tâm lý học nổi tiếng - cho rằng tồn tại giấc mơ là nhằm lấp đầy những ước nguyện của con người chúng ta. Tuy nhiên, sự ban thưởng trong thế giới đầy hình ảnh đó không mấy giúp chúng ta có thêm những bản năng trong đời thực, vốn là một điểm then chốt trong nấc thang tiến hóa. 

Các nhà khoa học khác thì cho rằng giấc mơ có tác động một chiều đối với chu trình của giấc ngủ. Những giấc mơ thường xảy ra trong giai đoạn "Mắt đảo nhanh" (Rapid Eye Movement, REM) khi ngủ. Giai đoạn này đóng một số chức năng quan trọng: Thư giãn một phần của não bộ (vì một số khu vực hoạt động trong khi một số khác thì không) và bổ sung thêm một số chất hóa học quan trọng cho não như các chất dẫn truyền thần kinh. 

Điều này khiến nhiều học giả cho rằng giấc mơ là điều bình thường mỗi khi người ta chìm vào giai đoạn REM. 

Trước đây, nhà tâm lý học Steven Pinker từng cụ thể hóa giấc mơ trên màn hình máy tính và cho rằng có lẽ chúng chẳng có nội dung gì ngoài việc một số khu vực trong não hoạt động. 

Tuy nhiên, bà Barrett không nhất trí với những kiến giải của các bậc tiền bối. Bà cho rằng:"Tiến hóa không hề làm điều gì vô nghĩa bởi lẽ kết quả của tiến hóa đều ẩn chứa những câu trả lời hết sức rõ ràng về mặt tư duy.” 

Giấc mơ REM là kết quả của một quá trình tiến hóa của động vật có vú trong 220 triệu năm qua. Barrete khẳng định "REM là cuộc cách mạng trong lịch sử tiến hóa của loài người. Rõ ràng, “kẻ nói dối” này có những chức năng đặc biệt khác ngoài việc huyễn hoặc con người khi đời sống thực không đẹp như mơ." 

Barrett và các sinh viên của bà ở Havard đã mất 10 năm dày công nghiên cứu và tổng hợp thành nhiều ví dụ điển hình cho hiện tượng này. 

Trong một thí nghiệm, Barrett đã để cho các sinh viên của mình lựa chọn một vấn đề nan giải trong công việc nhà để thử giải quyết nó thông qua một giấc mơ. Các sinh viên này tập trung vào vấn đề của mình mỗi tối trước khi lên giường đi ngủ. Bảy ngày sau, một nửa số sinh viên đã mơ về vấn đề này và khoảng 1/4 trong số đó đã tìm ra được lời giải cho các vấn đề của mình. 

Barrett cũng mở rộng nghiên cứu về giấc mơ sang văn chương và khoa học với những khó khăn cần giải quyết. Bà nhận thấy hầu hết những vấn đề từ toán học đến nghệ thuật này đều được giải quyết bằng giấc mơ.